Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Thiên Tình Sử của HXH & Nguyễn Du, bài 11 và 12

 

Thiên Tình Sử của HXH & Nguyễn Du, bài 11 và 12

Bài số 11:
Thu daï höõu hoaøi (Thu Dạ Hữu Hoài)

                                             Hồ Xuân Hương

 

Bài Thu dạ hữu hoài trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, Xuân Hương gửi Nguyễn Du:

Câu Bóng nhạn về đâu, mây ở lại, nhạn là Nguyễn Du đã bay xa, mây là Xuân Hương còn ở lại. Bài thơ viết khoảng năm 1794.

Diễn ý bài Thu dạ hữu hoài:

Đêm tàn, Xuân Hương còn thức, ngơ ngẩn thương nhớ người đi xa,

Nơi lầu mây, rượu rót không tri âm; hững hờ để lạnh, nửa vầng trăng tà chiếu lóng lánh ánh bạc trong ly.

Nước chảy, gió thổi mãi, giọt nước trong hồ đồng rơi đều.

Hoa hay trăng tự lòng Xuân Hương,

Lòng Xuân vắng vẻ,

Xuân hứng không nhiều?

Bóng người đi như bóng chim nhạn bay về đâu?

Chỉ còn nghe tiếng dế trùng than khóc,

Dòng nước u hoài trôi mãi,

Năm tàn thêm lo…

*

Bản dịch bài thơ:
Thu dạ hữu hoài

Dạ thâm nhân tĩnh độc trù trù, 
Vân lâu tửu lãnh ngân hoàn bán. 
Thuỷ khoát phong trường ngọc lậu cô, 
Hoa nguyệt nguyệt hoa chủ nhân ngô. 
Xuân tịch tịch, 
Xuân hứng bất đa hồ. 
Nhạn ảnh hà quy vân tự trụ, 
Cùng thanh như khốc thuỷ không lưu, 
Tuế án tu đồ.

*

                                         Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:

                 秋夜有懷

夜深人靜獨躊躇 
雲樓酒冷銀環半 
水闊風長玉漏孤 
花月月花主人吾 
春寂寂 
春興不多乎 
鴈影何歸雲自住 
蛩聲如訴水空流 
歲晏須圖。

*

Các bản dịch thơ:

1- Đêm thu cảm hoài

Đêm tàn người thức lòng ngơ ngẩn, 
Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà. 
Nước chảy gió đùa trơ mặt ngọc, 
Hoa hoa, nguyệt nguyệt nỗi lòng ta. 
Xuân vắng vẻ, 
Xuân hứng chẳng nhiều ư ? 
Bóng nhạn về đâu mây ở lại, 
Dế trùng than khóc nước trôi hờ, 
Đêm tàn nên lo.

Người dịch Nhất Uyên

*

2-Đêm thu cảm hoài

Đêm sâu người lặng riêng ngẩn ngơ 
Lầu mây rượu lạnh nửa vòng bạc 
Nước láng gió dài giọt đồng trơ 
Hoa hoa trăng trăng người chủ là ta 
Xuân vắng vẻ 
Hứng Xuân chẳng nhiều ư? 
Bóng nhạn về đâu mây ở lại 
Dế giun như khóc nước trôi lờ 
Năm tàn nên lo.

Người dịch: Bùi Hạnh Cẩn

*

3- Ngân Triều cảm đề, Thu dạ hữu hoài:

Đêm tàn, thương nhớ người phương xa,

Rượu lạnh long lanh ánh nguyệt tà.

Nước chảy, gió đưa, hồ rỏ giọt,

Trăng hoa thề hẹn, vẹn lòng ta.

Lòng Xuân đi vắng sao nhiều hứng?

Mây nhạn về đâu nỗi nhớ nhà.

Tiếng dế tỉ tê dòng nước chảy,

Nên lo chuyện cũ cuối năm qua.

*

Nguồn: 

1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999

2. Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp.

3. Nguồn, tham khảo trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh.

*****

Bài số 12:
Thu daï 1 (Thu Dạ)

Nguyễn Du

Nguyễn Du phúc đáp bài Thu da hữu hoài của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu dạ I. trong Thanh Hiên thi tập.

 Nhất Uyên diễn ý thơ và phiên âm:

Anh đã nghe tiếng dế trùng than khóc nơi tường đông,

mây ở lại Thăng Long với em nên Hồng Lĩnh trời lạnh ngắt không một vầng mây.

Trời đầy sao sáng, sương móc trắng như bạc, tường đông dế gặp lạnh kêu buồn thảm, chua xót.(tiếp ý dế khóc bài Thu dạ hữu hoài).

Bầu trời một màu, lạnh ngắt, không một làn mây.

Mây ở hết bên em rồi, anh chỉ là cánh chim đơn côi trong trời lạnh giá.

Thắm thoát thời gian qua nhanh, tuổi càng cao, tóc bạc vì nhiều suy nghĩ trông rất thảm thương.

Ở mãi nơi đây, núi xanh chưa chán người; người đi chơi xa bên trời, lòng ngao ngán,

Suốt năm nằm bệnh trên bến Quế Giang. (Sông Quế là một tên khác của sông Lam, dưới chân núi Hồng Lĩnh). 

                                                     Thu Dạ I

Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân, 
Đông bích hàn trùng bi cánh tân. 
Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp, 
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân. 
Lão lai bạch phát khả liên nhữ, 
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân. 
Tối thị thiên nhai quyện du khách, 
Cùng niên ngọa bệnh Quế giang tân.

*

Đêm Thu I

Đầy trời sao sáng bạc sương dâng, 
Dế lạnh tường đông thảm thiết buồn. 
Vạn dặm tiếng thu rung lá rụng, 
Một trời khí lạnh vắng mây vương. 
Già rồi tóc bạc lòng thêm xót, 
Ở mãi non xanh chẳng chán chường. 
Ngán nỗi bên trời lòng khách mệt, 
Suốt năm nằm bệnh Quế giang tân.

 

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ

                              *

                              Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:

  

 
 
 
 
 
 
 

*

Dịch nghĩa 

Sao dày đặc, trông rõ mồn một, sương trắng tựa bạc 
Vách phía đông, dế gặp lạnh, kêu buồn thảm. 
Suốt muôn dặm, tiếng thu giục lá cây rụng. 
Bầu trời lạnh ngắt, không một vầng mây. 
Đến tuổi già, mái tóc bạc, trông mà thương cho anh! 
Ở mão nơi đấy, thế mà rặng núi xanh kia vẫn chưa chán người. 
Buồn nhất là kẻ du khách ở nơi chân trời đã mỏi mệt, 
Lại suốt năm đau ốm, nằm trên bến Quế giang này.

                                                                       Nhất Uyên dịch

*

Tham khảo các bản dịch thơ:

1- Bản dịch của Nguyễn Thạch Giang

Sâu rừng kêu lạnh giọng bi ai.

Một trời khí buốt xua mây lạnh,

Muôn dặm hơi thu giục lá rơi.

Ở mãi non xanh chưa chán khách,

Về già tóc bạc khá thương người.

Bên trời du khách chân đà mỏi,

Sông Quế quanh năm cứ ốm hoài.

*

2- Bản dịch của Đông Xuyên

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng. Andrew Matthews.
(When you compare life to life, life always wins , Andrew Matthews). .

*

3- Bản dịch của Trương Việt Linh

Sao sáng đầy trời sương tựa bạc,

Tường Đông tiếng dế não nùng than

Một trời khí lạnh mây không vẩn,

Muôn dặm hơi thu lá rụng vàng.

Sống mãi non xanh sao chửa chán,

Già mang tóc bạc há đừng than.

Lãng du góc bể thân đà mỏi,

Đau ốm năm chầy bến Quế Giang.

*

4- Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng

Trời đầy sao sáng bạc trắng sương,

Tường Đông trùng kêu quá thê lương,

Vạn dặm tiếng thu rung lá rụng,

Sắc trời lạnh ngắt chẳng mây vương.

Tuổi già đầu bạc ta xót bạn,

Người đã ở lâu, núi còn thương.

Chân trời mệt mỏi buồn nhất khách.

Quế Giang nằm bệnh suốt năm trường.

*
5- Bản dịch của Đất Văn Lang

Sao mắc đầy trời sương giải bạc,

Tường Đông kén bướm ủ ê vàng.

Vạn dặm hồn thu khua lá rụng,

Khắp trời gió lạnh quét mây tan.

Tuổi già tóc bạc còn thương quá,

Ở lâu núi thẳm vẫn chưa nhàm.

Chân trời lữ khách buồn chân mỏi,

Nằm bệnh cả năm bến Quế Giang.

*

6- Bản dịch của Nhất Nguyên Phạm Trọng Chánh:

Đầy trời sao ánh bạc sương dâng,

Dế lạnh tường Đông thảm thiết buồn.

Vạn dặm tiếng Thu rung lá rụng,

Một trời khí lạnh vắng mây vương.

Già rồi tóc bạc lòng thêm xót,

Ở mãi non xanh chẳng chán chường.

Ngán nỗi bên trời lòng khách mệt,

Suốt năm nằm bệnh Quế Giang tân.

 

Tiếng Thu rung lá bay muôn dặm,
               Lạnh ngắt, mây đâu chẳng một vầng? Ngân Triều

*

7- Ngân Triều cảm đề,

Bài Thu dạ 1, Nguyễn Du:

Mồn một sao treo, sương tựa bạc 
Vách Đông, dế lạnh, não nùng than. 
Tiếng Thu rung lá bay muôn dặm,
Lạnh ngắt, mây đâu chẳng một vầng? 
Tóc bạc, tuổi già trông rất thảm,

Ở lâu rặng núi chửa chê nhàm. 
Chân trời lữ khách đà ngao ngán, 
Đau ốm quanh năm bến Quế giang.

(Còn tiếp)

*****
Ảnh minh họa bài 11 & 12: 









Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét