Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

Thiên tình sử HXH & Nguyễn Du (tiếp theo)



Thiên tình sử HXH & Nguyễn Du (tiếp theo) 
 Bài số 5: 
 Töôûng ñaùo nhaân tình minh nhieân haï leä taåu buùt phuïng trình. 
 (Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình) 
                                                                                         Hồ Xuân Hương 
    Rồi một ngày cuối mùa hạ năm Quý Sửu 1793, mối tình Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du đã ba năm vẹn. Mùa hạ sen nở, gần đến cuối hạ mới đi hái sen, hái gương sen rồi quen Hồ Phi Mai. Nguyễn Du báo tin cho Hồ Phi Mai biết chàng trở về Hồng Lĩnh cùng em Nguyễn Ức, xây dựng lại từ đường,đình chùa, cầu Tiên vì làng Tiên Điền đã bị tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ làm cỏ, đốt phá năm 1790 do cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quýnh. Anh Nguyễn Du, Nguyễn Nể, sau khi đi sứ về, làm quan ba năm tại Bắc Hà. Vua Quang Trung mất năm 1792, nay được Vua Cảnh Thịnh thăng Đông Các Đại học sĩ, gia thăng Thái Sử, Thự tả Nghị lang,được lệnh về Phú Xuân trông coi văn thư Cơ Mật Viện. Chức vụ gần như thường trực, thầy dạy bên cạnh vị vua trẻ mới lên mười. Nguyễn Nể không thể trông coi việc xây cất nên giao việc này cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức; nhất là Nguyễn Ức có tài kiến trúc, vẽ kiểu, tính toán, chỉ huy thợ; về sau cung điện Phú Xuân thời Gia Long Minh Mạng đều do Nguyễn Ức chỉ huy xây cất. Biết tin này Hồ Xuân Hương đau đớn viết bài Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình. Nghĩ đến chuyện cách xa nhau, sụt sùi rơi lệ, nhân đó, viết nhanh,trao cho Nguyễn Du để bày tỏ nỗi lòng mình. 
 Nhất Uyên dịch nghĩa: 
 Mối tình đầu thắm thiết, nguyện ba kiếp hẹn nghĩa non vàng, 
 Buồn man mác lòng mình nên thổ lộ cùng chàng. 
 Em chẳng vượt đèo mây Tam Điệp cùng chàng về Hồng Lĩnh, 
 Nhưng lời thề nguyền hương lửa ngỡ cũng lên đường theo chàng. 
 Lời nào mình thề hẹn với nhau cùng nước non, 
 Tình chàng chân thật hay gió trăng qua đường, mà chán chường em chăng? 
 Dù tấm thân em có bị lao đao thế nào, em chẳng tiếc chi cả. 
 Xin hãy thương nhau, sao cho trọn tấm lòng. 
 Bài thơ chữ Nôm, tựa chữ Hán, chép trong Lưu Hương ký. 
 Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình 
 Ba sinh tự hẹn nghĩa non vàng 
 Man mác lòng riêng lại ngỡ càng. 
 Lối bước đèo mây đành chẳng đã, 
 Mảnh nguyền hương lửa ngỡ lên đường. 
 Nước non lời nọ nào chuông chắn, 
 Trăng gió lòng kia mãi chán chường. 
 Đày đoạ thân này thôi chẳng tiếc. 
Thương sao cho trọn tấm lòng thương. 
 * 
 Những lời non nước ngân nga mãi, 
 Mộng ước trăm năm có chán chường? 
 Ngân Triều 
 * 
 Bản chữ Nôm Ngân Triều soạn: 
𠀧生自哏義𡽫鐄 
漫漠𢙱貞吏𢣸強
𨇒𨀈岧𩄎𢝜拯㐌 
𤗖𡅪香焒𢣸𨑗塘 
渃𡽫唎奴閙鐘振 
綾𩙍𢙱箕買𠺲悜 
𢰥墯身尼崔拯惜 
愴𡫡㧣侖𤗲𢙱愴 
 * 
 Chú giải: 
 Ba sinh: 𠀧 生, ba kiếp sống tích ba sinh hương hỏa. Sách Quần Ngọc chú chép: Tỉnh Lang tới chơi, chùa Nam Huệ tự nằm chơi ngủ quên thấy mình đi chơi non Bồng, gặp một ông thầy ngồi niệm kinh trước mặt có cây hương đang cháy. Tỉnh Lang hỏi, ông thầy đáp: khi trước có một người đi chùa thắp cây nhang này, khấn nguyện, nhang hãy còn cháy,mà người ấy đả trải qua ba kiếp rồi: Kiếp đầu làm quan Phủ Sứ đất Kiến Nam, thời Đường Huyền Tôn; kiếp sau làm quan, Tây Thục đời Đường Hiến Tôn và kiếp thứ ba tên Tĩnh Lang. Tĩnh lang nghe tên giật mình tỉnh dậy, nửa tin nửa ngờ. 
 Man mác:漫漠; man 漫 là tràn; mác hay mạc 漠 là rộng nhiều. Man mác 漫漠 là có tâm trạng đượm buồn dâng tràn trong lòng: 
 Bác Dương thôi đã thôi rồi, 
 Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. 
 Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến 
 Chuông chắn: 鐘振, vuông vắn,ngay thẳng, trọn vẹn. Ở đây hiểu là trọn vẹn. 
 *
 Ngân Triều diễn thơ:
Ba sinh ước hẹn sánh non vàng, 
Man mác lòng riêng dám ngỏ chàng. 
Tùy xướng đèo mây duyên chửa định, 
Hương thề như đã nặng riêng mang. 
Những lời non nước ngân nga mãi, 
Mộng ước trăm năm có chán chường? 
Lặn lội thân cò thân chẳng tiếc. 
Thương sao cho vẹn mới là thương! 
 ***** 
 Bài số 6: 
Giang Nam phuï níp kieâm löu bieät höõu nhaân. 
(Giang nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân) 
                                                        Hồ Xuân Hương 
    Bài Giang nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân, Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam, Hồ Xuân Hương viết năm 1793 để tiễn Nguyễn Du về Hồng Lĩnh. Cuộc tiễn đưa nơi trường đình phía Nam sông Hồng, khúc sông đó là sông Vị Hoàng, Nam Định ngày nay. Nguyễn Du, Nguyễn Ức mang một số tiền khá lớn, có lẽ là tiền thưởng của Nguyễn Nể sau khi đi sứ về. Mang tiền bạc đi xa, đi thuyền kín đáo, an toàn hơn đi đường bộ. Ngày xưa chưa có va-li, người Việt xưa dùng một tấm khăn vải lớn, bọc hết đồ đạc, hai chéo khăn được cột chặt để giữ hành lý, hai chéo khăn còn lại cột dài để mang trên vai. Khăn gói bây giờ chia tay nhau vạn dặm, vạn dặm đây chỉ là một cách nó xa cách muôn trùng. (Từ Vị Hoàng về đến Hồng Lĩnh, cách nhau chỉ vài trăm dặm). 
 Nhất Uyên dịch nghĩa: 
 Nơi trường đình rót chén rượu đặt trên khay mời cạn chén ly bôi. 
Cánh buồm sẽ căng lên đôi cánh vì chở sầu làm thuyền nghiêng nặng. 
Chàng đi vì trọng trách gia đình, tổ tiên; sầu dâng muốn lấp lòng sông cho nước trièu không chảy nữa.cố nén lòng như nước sông sâu, để nước mắt chẳng trào. 
Nhìn lại cây cỏ cũ, mùi hương chửa mất. 
Xa quê, vời trông núi non Hồng Lĩnh cao ngất, xa mờ. 
Xa nhau rồi mong sẽ có ngày chúng ta gặp lại nhau. 
Nếu lỗi lời thề non hẹn biển, thì thà chết đi trên ngọn sóng đào. 
Nhất Uyên dịch thơ
Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam 
Khăn gói bây giờ vạn dặm nao, 
Trường đình rượu tiễn chén mời trao. 
Buồm căng đôi cánh sầu nghiêng nặng, 
Sầu nén sông sâu nước chẳng trào. 
Cỏ cũ lặng nhìn hương chửa mất. 
Xa quê quay ngóng núi quê cao. 
Xa nhau còn có ngày gặp lại, 
Thề biển thà cho ngọn sóng đào. 
*
Nhất Uyên phiên âm:
Giang Nam phuï níp kieâm löu bieät höõu nhaân 
(Giang nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân) 
Phụ níp tòng kim vạn lý dao, 
Trường đình tửu tiễn thượng thù giao. 
Muộn đôi phàm sí thuyền thiên trọng, 
Sầu áp giang tâm thuỷ bất trào. 
Cựu thảo ngưng mâu hương vị tán, 
Tha hương hồi thủ vọng cô cao. 
Tuy nhiên thượng hữu tương phùng nhật, T
Thệ hải ninh dung nhất lãng đào. 
 Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, 
 Nguồn: 
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999 
2. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam. 
3, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tinh Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, Tiến Sĩ Phạm Trọng Chánh. 
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn: 
江南負笈兼留別故人 
負 笈 從 今 萬 里 遙
長 亭 酒 餞 尚 酬 醪 
悶 堆 帆 翅 船 偏 重 
愁 壓 江 心 水 不 潮 
舊 草 凝 眸 香 未 散 
他 鄉 回 首 夢 孤 高 
雖 然 尚 有 相 逢 日 
誓 海 寧 容 一 浪 濤 
Khăn gói sang sông Nam, nhân gửi bạn
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn 
Khăn gói khởi hành vạn dặm nao, 
Trường Đình rượu tiễn chén mời trao. 
Buồn dâng buồm vút thuyền nghiêng nặng,
Sầu nén sông sâu nước chẳng dào. 
Cỏ cũ nhìn lâu hương chửa tán, 
Làng ai quay lại núi quê cao. 
Rồi ra còn có phen cùng gặp, 
Thề biển thà cho đợt sóng đào. 
Chú thích: 
Giang Nam: 江 南, Dữu Tín người đời Nam Bắc Triều, làm quan xa nhà lâu ngày không về, có làm bài Ai Giang Nam phú tỏ lòng nhớ thương quê hương, từ đó chữ Giang Nam còn có nghĩa là lòng nhớ thương quê hương… 
 Dẫu rằng có hẹn ngày tương ngộ, 
Bội bạc vùi thây lớp sóng dồi
                                     Ngân Triều 
Ngân Triều diễn thơ: 
Khăn gói xa nhau vạn dặm rồi! 
Trường đình rượu tiễn rót đưa mời. 
Buồm xuôi tê tái buồm chao đảo, 
Nước ép sông sầu nước chẳng trôi. 
Trong mắt cỏ xưa hương vẫn đọng, 
Lòng quê vời ngóng núi xa khơi. 
Dẫu rằng ước hẹn ngày tương ngộ, 
Bội bạc vùi thây lớp sóng dồi. 
 (còn tiếp) 
 ***** 
 Ảnh minh họa bài 5 và 6 
-Ảnh dưới: Con tàu được đặt tên là Sông Saigon, sau được đổi tên lại thành La Boudeuse, được đóng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Con tàu này đã có một khoảng thời gian dài tung hoành bên châu Âu trước khi bị chìm ở Địa Trung Hải,/La Boudeuse: Nàng quạo quọ, khó tính/ ảnh Google.

           

            

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét