Thiên tình sử của HXH & Nguyễn Du, bài 17 & 18, (tiếp theo)
Bài số 17:
Thu nhaät töùc söï (Thu nhật tức sự)
Hồ Xuân
Hương
Xuân
Hương lại gửi cho Nguyễn Du một bài thơ khác, bài Thu nhật tức sự:
Ngọn gió Tây đêm qua mang lạnh về,
Giậu cúc đìu hiu dù vẫn còn tuyết đọng.
Mưa rơi nặng mặt nước sông mờ mịt,
Mưa dứt, trơ trọi một đám mây đùn quanh đỉnh
núi xanh, như ai vẽ những đường mi.
Sen tàn, cuối hạ, trời còn lưu lại một chút
hương mùa xuân cũ.
Bên cây liễu thuớt tha, như còn dư hương
trong tán lá màu xanh biếc.
Kìa chim vui hót, biết có ai thấu hiểu nỗi niềm riêng.
Những lời của người xa vẫn còn đọng mãi trong mối tình chân thành.
Trong thơ Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, gió Tây
không chỉ là gió Lào từ hướng Tây, mà là quân Tây Sơn ra Bắc, do đó ta có thể
đọc một cách khác những ẩn ý trong bài thơ tả cảnh để nói lên tình hình chính
trị đương thời. Quân Tây Sơn ra Bắc làm cho tình hình đìu hiu. Cuộc chiến đang
diễn ra trong Nam với quân Chúa Nguyễn, tình hình vẫn còn mờ mịt. Nay chỉ còn
một mình Vua Tây Sơn nơi đất Bắc, triều đại nhà Lê suy tàn nhưng lòng người
cũng còn nhớ đến. Có ai thấu chăng lòng mình còn nhớ đến quê hương.
*
Ngày
thu tức cảnh
Đêm qua lành lạnh gió Tây
về,
Giậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi.
Mưa nặng sông chia mờ mặt nước,
Mây trơ núi biếc vẽ đường mi
Sen tàn cuối hạ làn xuân rớt,
Liễu rũ hương thừa áo biếc che.
Chim hót nỗi mình ai có thấu,
Lời lời còn đọng mối tình quê.[1]
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương.
Hương Đình Cổ Nguyệt Thi tập. Nhất Uyên
dịch thơ.
*
Thu nhật tức sự
Tây phong tạc dạ áp hàn chi,
Ly cúc tiêu sơ tuyết vị phi.
Mật vũ tà si phân thuỷ diện,
Cô vân miêu chức viễn sơn my.
Liên dư tàn hạ lưu xuân đới,
Liễu bạng nhiêu hương lão thuý y.
Đề điểu mạc phi tri ngã huống,
Thanh thanh trường động cố hương ty (tư).
*
Nguồn:
1. Hồ
Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Tứ gia
thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc
gia Việt Nam
3.Tham khảo
trang Web: Đi tìm Cổ nguyệt đường và mối tình HXH và Nguyễn Du của TS Phạm Trọng Chánh
*
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋 日 即 事
西 風 昨 夜 壓 寒 枝
籬 菊 蕭 疏 雪 未 飛
密 雨 斜 篩 紛 水 面
孤 雲 描 織 遠 山 眉
蓮 餘 殘 夏 留 春 帶
柳 傍 饒 香 老 翠 衣
啼 鳥 莫 非 知 我 況
聲 聲 長 動 故 鄉 思
*
Dịch thơ 1- Ngày Thu tức cảnh
Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn
Đêm qua lành lạnh gió Tây về,
Giậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi.
Mưa nặng sông chia mờ vẻ mặt,
Mây trơ non thẳm vẽ đường mi.
Sen tàn Hạ cuối dây thơm sót,
Liễu ngã Xuân thừa biếc áo che.
Chim hót nỗi mình chăng có thấu?
Lời lời dài đọng nỗi lòng quê.
*
Ngân Triều cảm đề
Bài Thu nhật tức sự:
Gió Tây, đêm rét lạnh tư bề,
Giậu cúc buồn tênh ngậm tuyết chi?
Nặng hạt mưa chiều, sông mịt mịt,
Ngớt mưa, mây gắn
núi bờ mi.
Sen tàn cuối Hạ còn thơm rớt,
Hương liễu Xuân già, áo vẫn khoe.
Chim hót thấu chăng lòng lữ thứ?
Tiếng buồn vang vọng nỗi niềm quê.
*****
Bài số 18:
Thu nhaät kyù höùng (Thu nhật ký hứng)
Nguyễn Du
Nguyễn
Du lại viết một bài thơ Thu nhật ký hứng, mở đầu bằng chữ Tây Phong đáp lại bài
thơ Thu nhật tức sự của Hồ Xuân Hương:
Gió Tây mới đến, anh vẫn
chưa về
Mà đã thấy khí trời lạnh
lắm.
Non sông nước cũ ngắm trông
buổi chiều tà.
Dù có xa em thân thế mặc
như đám mây trôi nổi.
Giật mình sợ cái cảnh già
đến,
Đêm qua tiếng gió thu ở đâu
nổi lên.
Cười mình đầu bạc mà còn
vụng thu xếp,
Để lá vàng rơi rụng đầy sân.
Gió Tây ám chỉ Tây Sơn, bài thơ còn ký thác
tâm sự Nguyễn Du:
Vì Tây Sơn ra Bắc nên chàng chưa về Thăng
Long, không khí chính trị làm cho lòng dạ tái tê. Nhìn non nước cũ nhà Lê thời
vận đã tàn, ở quê mình mà cũng như quê người, thân phận tha hương vẫn như đám
mây trôi nỗi (khóc cười theo thời thế, im lặng giữ thân) Sợ rằng tuổi ngày một
cao mà chưa làm nên việc gì, Đêm trước có nghe gió thu, từ phương Nam
Lạy
trời cho chóng gió Nồm,
Để thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra
mọi người đều hay biết.
Tự trách mình bạc đầu còn
vụng tính, đẻ cho lá vàng rơi rụng đầy sân.
Ngày Thu cảm hứng
Thu nhật ký hứng
Gió Tây mới đến khách chưa
về,
Khí lạnh mười phần dạ tái tê.
Nước cũ non sông trời lặng ngắm,
Quê người thân thế gửi mây che.
Cái già chợt sợ nay đà đến,
Thu đến nơi nơi đêm trước nghe.
Tự trách bạc đầu ta vụng tính,
Lá vàng rơi rụng, rụng đầu hè.
*
Tây
phong tái đáo bất qui nhân,
Đốc giác hàn uy dĩ thập phần.
Cố quốc hà sơn khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân.
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị,
Hà xứ thu thanh tạc dạ vân,
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu thập
Mãn đình hoàng lạc diệp phân phân.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập.
Nhất Uyên dịch thơ.
Chú giải:
Bạch đầu: 白 頭, Nguyễn Du thường tả mình dầu bạc, có lẽ ông
bị bệnh bạc tóc sớm. Thế kỷ 18,19 tuổi thọ trung bình người Việt Nam chỉ trên
năm mươi.Đặc biệt làng Tiên Điền có tục ăn lão năm 53 tuổi, trên tuổi này được
xếp vào hạng trưởng lão, ăn trên ngồi trước trong làng. Anh em Nguyễn Du chỉ
sống trên dưới 55 tuổi.
Tha hương: 他 鄉, Nguyễn Du còn ở Hà Tỉnh, đang nghĩ chuyện tha
hương, vào Nam theo Chúa Nguyễn Ánh.
Tham khảo Bản chữ Hán, Thơ
chữ Hán Nguyễn Du, Trần Văn Nhĩ dịch
thơ, bài số 111, trang 238,NXB Văn Nghệ, 2007.
Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
秋 日 寄 興
Thu Nhật Ký Hứng
西 風 再 到 不 歸 人
Tây phong tái đáo bất quy
nhân
頓 覺 寒 威 已 十
分
Đốn giác hàn uy dĩ thập
phân
故 國 河 山 看 落
日
Cố quốc hà sơn khan lạc
nhật
他 鄉 身 世 托 浮
雲
Tha hương thân thế thác phù
vân
忽 驚 老 景 今 朝 是
Hốt kinh lão cảnh kim triêu
thị
何 處 秋 聲 昨 夜 聞
Hà xứ thu thanh tạc dạ văn
自 哂 白 頭 欠 收
拾
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu
thập
滿 庭 黃 葉 落 紛
紛
Mãn đình hoàng diệp lạc
phân phân.
*
Dịch thơ: Ghi hứng ngày Thu
Gió Thu tới chưa được về,
Chợt nghe rét mướt sắt se
gấp mười.
Chiều tà non nước trông
vời,
Quê người thân thế nổi trôi
không nhà.
Sáng nay chợt sợ cảnh già,
Tiếng Thu xào xạc đêm qua
chốn nào.
Trách mình vụng tính bạc
đầu,
Lá vàng lả tả xạc xào đầy
sân.
*
Gió thu lại về, nhưng tác giả chưa được nghỉ
ngơi. Cái lạnh như lạnh thêm gấp mưòi. Niềm nhớ quê làm người xa quê thấy mình
như mây nổi, thấy sợ cảnh già, chẳng còn biết tiếng thu ẩn náu nơi nào. Chỉ
còn trách mình vụng tính. Đầy sân lá vàng rơi lã tã.
Ngân Triều cảm đề bài Thu Nhật Ký Hứng:
Gió Tây mới đến,
vẫn xa quê,
Lãng đãng [2] khí trời lạnh tái tê.
Nước cũ chiều tà như gấm vóc,
Chạnh lòng thân thế, mây lê thê.
Cảnh già sợ lắm nay đà biết,
Tiếng gió thu đâu lại trở về.
Đầu bạc tự trào còn vụng tính,
Lá vàng rơi lạc xạc đầy hè.
Ngân Triều.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét