Xao xuyến chiều Xuân, Thơ Nguyễn Trãi, đăng lại.
Xao xuyeán chieàu Xuaân
Ngaân
Triều
Quý bạn thân mến,
Thời gian! Cánh thời gian sao nhanh
quá! Mới đây mà một năm đã hết! Chợt
liên tưởng đến mấy câu thơ của Lý Bạch, mà lòng luống những ngậm ngùi:
Hựu
bất kiến,
Cao đường [1] minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti, mộ
thành tuyết.
Tương tiến tửu – Lý Bạch.
又
不 見
高 堂 明 鏡
悲 白 髪
朝 如 青 絲
暮 成 雪
將 進 酒 - 李
白
Lại chẳng thấy,
Gương tỏ rạng,
Song thân,
Buồn tóc trắng:
Mới sáng óng xanh tơ,
Mà chiều tối bạc phơ!
Ngân Triều dịch
Trăm năm của kiếp
nhân sinh chỉ dài trong chớp mắt; ngắn ngủi như kiếp hoa Phù Dung sớm nở tối
tàn. Một thoáng ngẫm nghĩ sự đời…sự đời đã vậy; buồn lặng mà chi cho lòng nặng mối vương.
Vậy thì, nhân dịp Xuân Đinh
Dậu 2017 sắp đến, kính mời quý Thầy Cô cùng tôi nhớ lại bài thơ Mộ Xuân tức sự của Nguyễn Trãi (1380-1442) như nhớ một chút hương
trong gió, chan hòa những cảnh sắc bát ngát của trời Xuân:
Mộ
Xuân tức sự [2]
Nhàn
trung tận nhật bế thư trai,
Môn
ngoại toàn vô tục khách lai.
Đỗ
Vũ thanh trung Xuân hướng lão,
Nhất
đình sơ vũ luyện hoa khai.
Ức trai thi tập,
Nguyễn Trãi
Nguyên tác chữ Hán
暮
春 即 事
閑 中 盡 日 閉 書 齋
門 外 全 無 俗 客 來
杜 宇 聲 中 春 向 老
一 廷 疏 雨 楝 花 開
抑齋詩集,阮薦
Chú thích:
Nhàn: 閑: Cửa hai cánh;
thong thả, rảnh rang. (Cửa một cánh là hộ:
戸; cửa 2 cánh là môn: 門;
hình hai cánh cửa ra vào, dùng để ngăn cách bên ngoài có cây cối mộc: 木 với
bên trong, là chữ nhàn, 閑 tức là cánh cửa;
nhàn ban ngày. Đồng nghĩa với chữ : nhàn:
閒ngắm ánh trăng, nguyệt 月soi trước cửa nhà mình, môn門, cũng là nhàn, 閒thong thả, rảnh rang; nhàn ban đêm).
Cụ Nguyễn Công Trứ cũng đã có 2 câu thơ chơi chữ, trong bài hát
nói Chữ Nhàn, xin ghi lại :
Thị
tại môn tiền náo
Nguyệt
lai môn hạ nhàn
巿 在 門 前 閙
月 來 門 下 閒
Nghĩa là:
Chợ
trước cửa nhà mình, thì ồn ào. (Chữ thị巿,ở chỗ chữ môn門là chữ náo 閙: ồn ào, lộn xộn).
Ngắm ánh trăng soi xuống trước cửa nhà
mình, là nhàn. (Chữ nguyệt月dưới chữ môn門, là chữ
nhàn閒, thong thả, rảnh rỗi).
Nhàn
trung閑 中, trong cánh cửa,
trong cảnh nhàn hạ, nhàn cùng cây cảnh ban ngày. Còn nhàn, 閒, là nhàn hạ cùng ánh trăng ban đêm.
Tận
nhật 盡 日 , ngày hết, trời đã về chiều.
Bế
thư trai: 閉 書
齋
khép cửa phòng đọc sách, phòng làm việc tại gia của nhà nho hoặc thư sinh khá
giả ngày xưa
Môn ngoại: 門 外 , ngoài cửa.
Toàn vô: 全 無 , hoàn toàn, tuyệt
nhiên không có.
Tục khách lai: 俗 客 來 , khách quen
đến.
Đỗ Vũ: 杜宇) hay Đỗ Quyên:杜鹃) là tên của loài chim Cuốc, ngoài ra
nó còn có tên gọi khác là Tử Quy. Giống chim này đầu mỏ hơi cong, miệng to,
đuôi dài, lông lưng màu tro, bụng trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường
sống chui lủi trong bụi rậm, hồ nước hoặc ao chuôm. Đến thời điểm đầu mùa Hạ cuối mùa Xuân thì
loài chim này bắt đầu kêu, chủ yếu vào những đêm trăng mờ tĩnh mịch, giọng kêu
nghe thảm thiết, bi ai, gợi cho lữ khách tha phương động lòng
nhớ về quê cũ, nơi in đậm những
kỷ niệm của một thời thơ ấu không bao giờ quên:
Cụ Tam Nguyên Yên Đỗ, đã cảm tác
về tiếng kêu con Cuốc, cả 8 câu thơ dưới đây, không có chữ cuốc nào, nhưng mỗi câu đều khơi gợi hình ảnh và cuộc đời con chim
cuốc đáng thương. Bài thơ mở đầu là tiếng kêu khắc khoải, lửng lơ, như cao-thấp, xa-gần, như tỉnh-như mơ; kết
thúc bài thơ là một tâm trạng thắc thỏm, vang vọng ở hai chữ“ngẩn ngơ”, sâu lắng; (khắc khoải là có tâm trạng bồn chồn, lo
lắng không yên, kéo dài một cách day dứt; “ngẩn
ngơ” là ở trạng thái như không còn chú ý gì đến xung quanh, vì tâm trí đang
để ở đâu đâu); qua đó, bài thơ như gieo vào lòng người đọc một tình cảm chạnh
lòng, réo rắt những hoài niệm tha thiết, miên man. Thật tuyệt vời:
Khắc
khoải đưa sầu giọng lửng lơ,
Ấy
hồn Thục Đế thác bao giờ?
Năm
canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu
khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có
phải tiếc Xuân mà đứng gọi,
Hay
là nhớ nước vẫn nằm mơ?
Thâu
đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục
khách giang hồ dạ ngẩn ngơ
. Cuốc kêu cảm hứng, Nguyễn Khuyến
Theo sách Sưu thần ký thì Đỗ Vũ là tên một vị vua nước Thục thời Chiến Quốc, xưng đế hiệu Thục Vọng Đế (蜀望帝), vua thông dâm với phu nhân của
vị tướng quốc bấy giờ là Biết Linh (鳖灵). Khi bị lộ, vua cả thẹn, bèn
nhường ngôi cho vị tướng quốc này. Tuy nhiên sau khi nắm quyền lực trong tay
thì Biết Linh ngược đãi Đỗ Vũ, khiến vua phải bực tức, buồn rầu, bỏ nước ra đi,
chẳng bao lâu thì chết. Theo giai thoại
dân gian, hồn vua hóa thành một loài chim, suốt ngày chỉ kêu "quốc,
quốc". Người ta bảo đấy là tiếng kêu của Thục Đế tiếc thương nước cũ. Do đó,
dân gian mới đặt tên cho giống chim đó là chim Cuốc.
Trong văn học cổ điển người ta
thường dùng tích Đỗ Vũ (hoặc Đỗ Quyên) để nói lên nỗi lòng thương nhớ quê
hương, khi bôn ba, phiêu bạt nơi đất khách quê người:
Khúc
đâu êm ái xuân tình,
Ấy
hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên.
ĐTTT, Nguyễn
Du, câu 3201-3202
(Nguồn: Theo Wikipedia)
Thanh trung: 聲 中, nghe
tiếng kêu.
Xuân
hướng lão: 春 向 老
, Xuân sắp hết, hay bấy giờ, sắp đến mùa Hạ.
Nhất đình: 一 廷, một
sân, hay dịch thoát , ngoài sân.
Sơ vũ:
疏雨 , mưa thưa, mưa bụi,có thể là bấy giờ trời còn mưa
phùn.
Luyện hoa khai: 楝 花 開, hoa
xoan nở.
Dịch nghĩa:
Cảm tác nhân nghe thấy những sự việc
trước mắt
(Bây
giờ), trong cánh cửa thư phòng, ta nhàn nhã cả ngày, chỉ có công việc đơn điệu,
(đọc sách ?) và một mình khép mở cửa phòng văn. (câu 1)
Bên
ngoài cửa vắng ngắt, tuyệt nhiên không có một bóng khách quen nào đến thăm. (câu
2)
(Khi
ấy), vẳng nghe tiếng chim Cuốc khắc khoải,
sầu đưa, lửng lơ, ta mới biết rằng mùa Xuân nầy sắp hết. (câu
3)
Trước
sân, màn trời giăng đầy mưa bụi, (qua đó, chỉ còn thấy), những chùm hoa xoan nở,
trong màu hoa trắng thuần khiết, thanh cao; pha chút tím ngát ngoạn mục, nhớ
mong, trong một buổi chiều xuân trống vắng, lạnh lùng. (câu
4)
Hoa xoan, hay hoa Sầu đâu, ảnh
minh họa Google.
Bài thơ nầy trích trong tập thơ chữ Hán, Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi và được
cảm tác vào một buổi chiều cuối Xuân, có thể lúc ông đã về trí sĩ nơi quê ngoại
ở Côn Sơn, nay là Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc là
một trong 62 di tích quốc gia đặc biệt quan
trọng của Việt Nam. Quần thể di tích này thuộc địa bàn thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dương.
( Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm
Bắc bộ, Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km
về phía Đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km
về phía Tây; phía Tây-Bắc
giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp
tỉnh Bắc Giang, phía
Đông-Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp
tỉnh Thái Bình và phía Tây giáp
tỉnh Hưng Yên. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương là đô thị loại 2, theo quy hoạch năm
2007, Hải Dương nằm trong Vùng Thủ đô với vai trò là một trung tâm công
nghiệp của toàn vùng).
1/-
Thân thế Nguyễn Trãi:
Nguyễn Trãi:阮 薦, (1380 – 19/9/1442), Hiệu
là Ức Trai, 抑齋. - Quê gốc ở làng Chi Ngại, (Làng Ngái), huyện Chí Linh,
tỉnh Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông, nay
thuộc Thủ đô Hà Nội.
- Cha là Nguyễn Phi Khanh, hiệu Ứng
Long, đỗ Thái Học Sinh năm 1734, đời Trần Duệ Tông, làm quan đời Nhà Hồ, có tác
phẩm Nhị Khê thi tập.
- Mẹ là Trần Thị Thái, dòng dõi quý tộc,
con gái Tể Tướng Trần Nguyên Đán (1320-1390), cuối đời Trần; ông có tập thơ Băng Hồ Ngọc Hác.
- Năm 6 tuổi, mẹ mất; năm 10 tuổi, Ông
ngoại mất; phải về sống với cha đang dạy học ở Nhị Khê.
- Năm 20 tuổi, đỗ Thái Học Sinh tức Tiến
sĩ, hai cha con đều làm quan trong triều đại Nhà Hồ.
- Năm 1407, giặc Minh sang cướp nước
ta, Nguyễn Phi Khanh bị đày chung thân khổ sai sang Tàu. Nguyễn Trãi bị giam lỏng
trong 10 năm rồi trốn thoát.
- 10 năm làm quân sư kiệt xuất cho Lê
lợi, kháng chiến chống giặc Minh thành công vào năm 1428. Cũng năm nầy, sau đó,
Ông bị bắt giam, bị cách chức rồi thả ra, chẳng được tin cậy như trước.
- Năm 1440, được giao nhiều việc quan
trọng.
- Năm 1442, Vụ án Lệ Chi Viên, Ông bị
tru di tam tộc, đầy oan ức. Vụ án thi hành một cách gấp rút, uẩn khúc, chỉ có
10 ngày! Toàn bộ những trước tác có giá
trị nhiều mặt của ông đều bị thiêu hủy.
- Mãi đến năm 1464, Vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông và cho sưu
tầm, chép lại những tác phẩm đã mất qua trí nhớ của các Nhà Nho, các quan lại
và trong dân gian. (Chắc là tam sao thất bổn, sao
bằng nguyên tác! Có còn hơn không).
2/-Sự nghiệp văn
chương:
- Tác phẩm bằng chữ Hán: Quân Trung Từ
Mệnh Tập, Đại cáo Bình Ngô, các loại văn thư ngoại giao, chiếu, chế, biểu …Nổi
tiếng là Bài Bình Ngô Đại Cáo, rực sáng tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm, tư
tưởng Nhân Nghĩa cao cả của dân tộc ta.
- Tập thơ Ức Trai Thi Tập (Hán) và Tập thơ Quốc Âm Thi Tập (Nôm) với chủ đề ca ngợi cuộc sống thanh đạm, dân
dã, vì nước, vì dân.
- Vua Lê Thánh Tông, trong bài Quân minh thần lương君明臣良nghĩa là Vua sáng, tôi hiền có ca ngợi Nguyễn
Trãi trong câu thơ (1) dưới đây:
Ức Trai
tâm thượng quang Khuê tảo (1)
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.
抑 齋心上光
奎藻
Nghĩa là:
Lòng Ức Trai (trong
văn chương), đã tỏa sáng đến văn chương của ta, (của Trẫm).
Bụng Vũ Mục chứa đầy binh giáp.
(Vũ Mục: Tư Mã Lê Khôi, thuỵ là Vũ Mục,
cháu gọi Thái Tổ Cao Hoàng Đế bằng chú, thâm trầm hùng dũng, tài lược hơn người,
đánh quân Minh tới đâu được đấy, trấn thủ thành Thuận Hoá, người Chiêm Thành
khiếp sợ).
(Khuê 奎là ánh sao Khuê chỉ văn chương; tảo 藻là rong biển có màu sắc óng ánh; Khuê tảo奎藻văn chương và thư họa của bậc Đế vương, ở đây Khuê
tảo chỉ văn chương của Vua Lê Thánh Tông)
Nhớ
lại trước đây, trong một tài liệu giáo khoa:
Ức Trai tâm thượng
quang Khuê tảo
抑 齋心上光 奎藻
Được dịch là:
Lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê.
Tấm lòng
Ức Trai sáng như sao Khuê, (bỏ
qua chữ tảo). Thật ra sao Khuê tượng
trưng cho văn chương mà không sáng!
Có
người còn ngẫu hứng, bổ sung, điểm thêm một chút lãng mạn, trữ tình: Lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê, lấp lánh trên nền trời hừng đông, hiu quạnh.(!!!)
(chữ hừng đông ý muốn dịch chữ tảo.
Thực ra chữ tảo早 là hừng đông, sáng
sớm, không phải là chữ tảo 藻 trong nguyên tác là rong
rêu đẹp; hiu quạnh là số phận hẩm hiu của một khai quốc công thần bị kết
tội oan; oan uổng 冤 枉 là bị khép vào một tội nặng mà không cách nào biên bạch. Vậy cặp từ ghép Khuê tảo奎 藻:văn chương và thư họa của bậc Đế vương, ở đây Khuê
tảo chỉ văn chương của tác giả, của nhà vua, của Vua Lê Thánh Tông, của trẫm.
Suy
ra, ý nghĩa của câu thơ là:
Lòng
Ức Trai rực sáng trên văn thơ của Trẫm.)
. Nổi bật nhất là văn phong chính luận hào
sảng, tuyệt vời của ông. Tiêu biểu là bài Bình Ngô Đại Cáo được viết ra sau khi
quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi: bút thần đanh thép, hỡi dạ, hỡi lòng người
đọc; nội dung tâm phục, khẩu phục mà khoan nhượng; quyết chiến, quyết thắng mà
bao dung; sang sảng căm thù tố cáo tội ác của giặc mà nhân hậu; sừng sững khẳng
định nền Độc Lập rực rỡ Trời Nam lần thứ hai; một áng thiên cổ hùng văn, sáng
ngời tinh thần yêu nước, quật khởi chống ngoại xâm; cao ngất tư tưởng Nhân Nghĩa,
trí tuệ, bản lĩnh, khí phách, hào hùng của dân tộc ta.
Quả thật, Nguyễn Trãi xứng đáng là một vị anh hùng dân tộc, một nhà văn, nhà thơ xuất chúng; một thiên tài nhiều mặt, trong sự nghiệp phát triển nền văn hóa Việt Nam
3/- Đại ý bài thơ:
Cảm tác về sự việc trước mắt và tâm sự của tác giả, khi đã về trí sĩ, trong một buổi chiều Xuân.
4/- Lời bình, Ngân Triều:
a/- Hai câu đầu: bao gồm những sự việc ở trong và ngoài cánh cửa thư
phòng:
Nhàn trung tận nhật bế thư trai,
Môn
ngoại toàn vô tục khách lai.
閑 中 盡 日 閉 書 齋
門 外 全 無 俗 客 來
Trong
cánh cửa thư phòng là công việc! Một công việc đơn điệu, nhàm chán. Một
công việc có thể không đáng gọi là công việc. Một công việc cùa cảnh nhàn nhã, không có tính cách rộn ràng, cấp
tập như của công việc nước non; mà chỉ có công việc thường nhật nhẹ nhàng cả ngày như đi vào, đi ra, khép mở phòng văn. (Sao buồn cười cho ta quá vậy! Phải nhàn thôi! Ta đã nghỉ hưu rồi mà!)
Ngoài
cánh cửa thư phòng là một nỗi niềm. Khi công việc suốt ngày đã nhàm chán, thì
nỗi niềm tâm sự dâng cao là đương nhiên. Nỗi niềm ở đây chính là tấm lòng mong
ngóng người quen. Người quen còn chẳng
có ai đến thăm, huống chi là bạn bè thân thiết. Tuyệt nhiên không có người quen, không có bạn bè thì nỗi niềm cô đơn,
trống vắng, buồn lặng cứ đến xâm chiếm tâm hồn. Trong cảnh lẻ loi trống vắng, nỗi
mong nhớ người rất da diết. Cho dẫu biết rằng, ngoài trời, thời tiết trở rét,
chiều mưa lưa thưa lạnh, mưa phùn, bạn
già, còn có mấy ai, gậy trúc run run, lụm cụm trong mưa gió, mà lui tới thăm
nhau, để chia sẻ vui buồn trong cuộc trà
dư tửu hậu. Cho hay, hưu trí, nhàn nhã, cô đơn, hiu quạnh mà không có bạn
cùng vui, cũng buồn.
b/-Hai
câu kết :là những chi tiết về âm thanh và hình ảnh:
Đỗ
Vũ thanh trung Xuân hướng lão,
Nhất
đình sơ vũ luyện hoa khai.
杜 宇 聲 中 春 向 老
一 廷 疏 雨 楝 花 開
Con
chim Cuốc ở đâu mà tiếng kêu của
nó nghe rất bi thương! Phải chăng âm thanh đó như tiếng réo gọi của nước non nhắc
ta công việc? Mùa Xuân nầy hầu như sắp hết,
cũng như đời ta, nay đã qui khứ điền viên, tuổi về quê an dưỡng cảnh già. Việc
nước non, hãy giao lại cho lớp hậu sinh khả úy, rường cột nước nhà, hãy dốc hết
tài trí và tấm lòng, tô điểm cho núi sông hoành tráng, vẻ vang.
(Chuyện
hão! Có phải ta đã lẩn thẩn rồi không? Mưa ướt lạnh, sao còn mong bạn tới? Cảm
tiếng cuốc kêu, ta mong có việc cho mình(?). Ai biết rằng, ta đã già yếu rồi,
tuổi Xuân như đã hết, tuổi hưu thì đành bất cập, lực bất tòng tâm).
Những sự việc trước mắt đó, quả đã gợi
cho ta nhiều nỗi bâng khuâng để ta thấu hiểu lẽ đời. Ô! Thật ấm lòng biết bao!
Khi ta chợt thấy: Trước sân, phơn phớt
màn trời giăng đầy mưa bụi; trong đó,
chỉ có những chùm hoa xoan tươi cười,
đu đưa khoe mình trong mưa gió, nõn nà một màu trắng thuần phác, thanh cao; chan
hòa chút tím ngát khả ái, nhớ mong. Kìa trông! Những chùm hoa xoan ấy, hồn
nhiên, thanh thản trong mưa bụi ướt, tỏ rõ một phong cách cao khiết, thân
thương đã đến chia sẻ nỗi niềm với ta, trong một buổi chiều Xuân, mưa phùn man
mác lạnh, lòng buồn dạt dào, trong mấy nỗi cô liêu.
Tóm lại, qua bài thơ tuyệt cú Đường luật nêu trên, thường chật hẹp trong khuôn khổ âm-thanh-vần-nhịp-niêm-luật …nhưng ý tại ngôn ngoại của hồn thơ, đã nói lên được nhiều điều: Tác giả đã minh họa một bức tranh về cuộc sống trí sĩ đơn điệu của bản thân, một bậc đại thần bấy giờ; một công việc nhàn nhã, se lòng; một bản tình ca không tên, ngùi nhớ những người quen biết cũ, những bằng hữu ngày xưa; một giai điệu u ẩn, tỏ lòng cao cả với nước non và tâm hồn của một nhà thơ kiệt xuất, thanh đạm, trong sáng, thanh cao
5/-Dịch thơ:
(1) Cuối
Xuân tức sự
Suốt
ngày nhàn nhã khép phòng văn.
Khách tục
không ai bén mảng gần.
Trong tiếng
cuốc kêu Xuân đã muộn.
Đầy sân,
mưa bụi, nở Hoa Xoan.
Khương Hữu Dụng dịch
***
(2) Cuối
Xuân cảm tác
Sáng chiều nhàn khép
phòng văn,
Cửa ngoài chẳng có, khách trần ghé ngang!
Cuốc
kêu xao xuyến, Xuân tàn,
Ngoài sân mưa bụi Hoa Xoan vẫy chào.֎
Ngân Triều dịch

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét