Xôn xao miền Nam mộtv thời!
[Bài 3]
Toân Phu Nhaân quy
Thuïc
Tôn Thọ Tường
Thơ xướng-họa của Tôn Thọ Tường và Phan Vãn Trị hay là trận bút chiến lịch
sử của sĩ phu miền Nam.
Lời dẫn:
Tương kế tựu kế của Khổng Minh, Lưu Bị sang Đông Ngô xin cưới em gái của
Tôn Quyền là Tôn Phu Nhân.[1] Được sự tán
thành của mẫu thân, Tôn Quyền đồng ý tác hợp và ngầm lưu giữ Lưu Bị lại Giang
Đông trong cảnh phú quý nhằm triệt tiêu mộng lớn của Lưu Bị. Cũng theo kế của
Khổng Minh, Triệu Tử Long phò giá Lưu Bị trốn về nước an toàn nhờ có Tôn Phu
Nhân đỡ đần mọi việc.
Việc Tôn Phu Nhân quy Thục, được Tôn Thọ Tường gởi gấm tâm sự mình vì sao
phải hợp tác với Tây. Cũng với sự việc đó, Phan Văn Trị lên án và đả kích tồi tệ.
Hai bài thơ, hai áng văn chương là tấm gương soi cho hậu thế, sắc sảo như
văn bia:[2]
Toân Phu Nhaân quy
Thuïc
Tôn Thọ Tường
(Bài xướng)
Cật ngựa, thanh gươm, vẹn chữ tòng,
Nghìn Thu rạng tiết gái Giang Đông.[3]
Lìa Ngô[4]
bịn rịn[5]
chòm mây bạc,
Về Hán[6]
trau tria[7]
mảnh má hồng.
Son phấn[8]
thà cam dày gió bụi,
Đá vàng[9]
chi để thẹn non sông.
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn,[10]
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng.
Nguồn: Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn
hợp tuyển, Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản (bản in lại lần thứ 9), 1968,
tr. 163-164.
Bản Hán Nôm, Ngân Triều soạn:
[倡]孫夫人歸蜀
𦛋馭青鎌院𡦂從
𠦳秋煬節𡛔江東
離吳𥾽緬笘𨗠泊
衛漢捞𢯙𤗖𦟐紅
𣘈粉時甘𠼪𩙍𡏧
𥒥鐄之氐𢢆𡽫滝
時𠅍𢚸偀鄧䏾𫯰
Toân Phu Nhaân quy Thuïc
Phan Văn Trị
(Bài họa)
Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông.
Khói tỏa đồi Ngô in sắc trắng,
Duyên về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc[11]
bền trời đất,
Một gánh cương thường[12]
nặng núi sông.
Anh hỡi Tôn Quyền[13]
anh có biết?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.
Nguồn:
Theo Thi Viện
Bản Hán
Nôm, Ngân Triều soạn.
[和] 孫夫人歸蜀
潘 文 值
掑橬𢯢筪院句從
𩈘𨁟𡗶𣊿别𡎝東
絲鎖隤吳印色𤽸
縁衛坦蜀淡牟紅
𠄩𦠘絲𩯀𥑃𡗶坦
沒挭綱常𥘀𡶀滝
英唉孮公英𣎏别
𤳆𣦍𠄜主𡛔𠄜𫯰.
Tiểu sử Tôn
Thọ Tường
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở B
<-- Ảnh Ông Tôn Thọ Tường, Google.
Tôn Thọ Tường (chữ Hán: 孫 壽 詳; 1825 - 1877) là
một danh sĩ người Công Giáo sống
vào thời nhà Nguyễn. Do
ông cộng tác với thực dân Pháp nên bị nhiều trí
thức người Việt chỉ trích mạnh mẽ.
Cuộc đời
Tôn Thọ Tường là người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay
thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông vốn xuất thân trong một gia đình khoa hoạn, thân phụ là Tôn Thọ Đức
đỗ cử nhân, làm quan dưới triều Thiệu Trị, Tự Đức.
Ngay từ thời trẻ, Tôn Thọ Tường học ở Huế, nổi
tiếng văn hay chữ tốt. Năm 1840,
thân phụ qua đời, nên việc học ông bị dở dang, đến năm 30 tuổi vẫn chưa đỗ đạt
gì.
Năm 1855,
Tôn Thọ Tường được tập ấm làm quan, nhưng chỉ được giao một chức quan võ, không
hợp với khả năng nên ông từ chối. Vì túng thiếu, ông phải đi làm bài thi mướn để
lấy tiền. Việc bại lộ, ông bị bắt giải về Kinh đô Huế. Vua Tự Đức xét
đến công lao của cha ông và nhận thấy ông cũng là người có tài nên gia ơn tha tội[14]
Ông trở về Nam, khi đi qua tỉnh Bình Thuận,
các viên quan ở đây vì mến tài, muốn bổ ông chức thông phán, nhưng bộ Lại không
chấp nhận. Việc này càng làm cho Tôn Thọ Tường bất mãn triều đình Huế[15].
Đến Gia Định,
ông lập lại Bạch Mai thi xã.
Sau đó ông được mời ra nhận chức tri phủ Tân Bình,
nên được người đời gọi là Phủ Ba Tường. Đô đốc Bonard muốn dùng ông
dùng uy tín của mình để dụ hàng Trương Định, nhưng không thành công.
Năm 1862,
Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ,
ông được chính quyền được cử làm ký lục trong phái bộ của Phan Thanh Giản sang Pháp và Tây Ban Nha.
Năm 1867,
ông được nhà cầm quyền Pháp phái về Ba Tri (Bến Tre) để
dụ hàng nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cùng
hai người con Phan Thanh Giản là Phan Tôn và Phan Liêm,
nhưng thất bại.
Năm 1871,
ông được thăng đốc phủ sứ[16].
Tháng 2 năm 1872,
viên chủ quận Vũng Liêm tên
Thực bị nghĩa quân ở nơi đó giết chết, ông được cử đến thay. Sau, vì không ổn định
được tình hình nơi ông cai quản[17], nhà cầm quyền Pháp rút
ông về dạy Hán văn ở trường Hậu Bổ (Collège des Stagiaires) Nam Kỳ.
Năm 1873,
ông được tham dự phái đoàn của Pháp sang Trung Quốc hai
tháng. Năm 1875,
Tôn Thọ Tường làm việc dưới quyền của Tổng Lãnh sự Pháp De Kergaradec ở Bắc Kỳ.
Năm 1877,
trong một lần theo viên lãnh sự này đi quan sát miền thượng du Bắc Kỳ,
ông mắc bệnh sốt rét ác
tính rồi mất.
Nhận xét
Tôn Thọ Tường được đánh giá là một nhà thơ có thi tài được thể hiện qua
một số bài thơ có hình tượng nghệ thuật như Đĩ già đi tu,Từ thứ
qui Tào, Cây mai, Mười bài tự thuật...Đương thời,
Tường bị các trí thức người Việt, đặc biệt hơn cả
là Phan Văn Trị lên án, chỉ
trích do làm việc cho người Pháp là kẻ xâm lược.
Năm 1966,
GS. Trịnh Vân Thanh có nêu lên một nhận xét khá công tâm hơn:
Với một tâm
trạng đau khổ, luôn bị dằn dặt của Tôn Thọ Tường, chúng ta thấy ông không phải
là người đánh mất cả lương tri. Việc vận động với người Pháp để xin ân xá
cho Bùi Hữu
Nghĩa, nhẫn nhục nhận lấy những lời thóa mạ, nguyền rủa của Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn
Đạt, Lê Quang
Chiểu...mà không tìm cách trả thù hay ám hại, chứng tỏ Tường vẫn còn biết trọng
nho phong, sĩ khí...
Tham khảo
· Dương Quảng Hàm, VN Văn học sử yếu, tái bản lần thứ
9), Sài Gòn, 1968.
· - Huỳnh
Minh, Vĩnh Long xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2002.
· -Nguyễn
Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển Nhân Vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất
bản Khoa ng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu.
Trung tâm học liệu xuất bản .
· -Diên
Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp, 1992.
Tiểu sử Phan Văn Trị 潘 文 值 (1830 – 1910);
***
Tiểu sử Phan Văn Trị
(1830 – 1910)
Nguồn: Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia
Phan Văn Trị ( 潘 文 值, 1830 – 1910); là một nhà thơ Việt Nam trong thời kỳ đầu
kháng Pháp của dân tộc Việt
Nam.
Khoảng năm 1847 – 1848,
ông đến làng Hạnh Thông, Gia Định (nay là Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) trú ngụ tại nhà người thân để trau dồi nghiên bút.
Khoa thi
Hương năm Tự Đức thứ 3 (Kỷ Dậu, 1849), ông đỗ thứ 10 trên 17 Cử
nhân[18]. Năm ấy, ông vừa tròn 19 tuổi.
Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan,
nhưng buồn vì thời cuộc cứ rối ren... ông không ra làm quan, mà về sống đạm bạc
bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An). Sau, ông tị địa về Vĩnh
Long, rồi về Phong Điền (Cần
Thơ). Ở đó, ông dạy học, bốc thuốc và
làm thơ...
Phan Văn Trị mất ngày 16
tháng 5 năm Canh
Tuất (22
tháng 6 năm 1910) tại
xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ), thọ 80 tuổi.
Sự nghiệp văn chương
Phan Văn Trị sáng tác nhiều nhưng hiện chỉ mới
tìm được khoảng trăm bài bao gồm thơ vịnh vật như: "Con mèo",
"Cái cối xay", "Hột lúa", "Con rận", "Cào
cào", "Con cóc",... và chùm thơ họa lại 10 bài thơ của Tôn Thọ Tường.
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Phan Văn Trị thường vịnh cảnh, vịnh vật để bày tỏ chí
hướng, ước muốn giúp đời, cứu dân hoặc để phê phán những người bất tài, hám
danh. Đến khi quân Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, ông làm thơ yêu nước.
Lòng yêu nước ấy chan chứa trong bài thơ tiêu
biểu sau:
Thất tỉnh Vĩnh
Long
Tò te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai, dạ xót xa.
Uốn khúc sông rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành phụng ủ sầu hoa
Tan nhà cám nỗi câu ly hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa
Gió bụi đòi cơn xiêu ngả cỏ,
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.
Và khi quân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa của Đinh
Sâm nổ ra tại Láng Hầm, cạnh Phong Điền. Để
tỏ lòng tiếc thương những nghĩa sĩ đã bỏ mình, Phan Văn Trị đã làm hai câu đối
thật xúc động:
Võ kiếm xung thiên, Ba Láng giang đầu lưu hận huyết.
Văn tinh lạc địa, Trà Niềng thôn lý đãi sầu nhan.
武 劍 沖 天 芭 浪 江 頭 流 恨 血,
文 星 落 地 , 茶 𦀅 村 理 待 愁 顔.
Tạm dịch:
Kiếm võ ngút trời,
Ba láng sông sâu tràn hận huyết.
Sao văn sa đất,
Trà Niềng thôn xóm thảy sầu mang[19]
Mặt khác, nói về mảng thơ mang tính chiến đấu
của ông, nhà thơ Bảo Định Giang nêu nhận xét:
Sau Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị xông xáo tiến lên đánh địch như một
dũng sĩ. Ngòi bút trong tay ông trở thành ngọn giáo, nhằm thẳng vào bọn bán nước,
đánh rất đau, khiến đối phương không cựa quậy được...
Và một điều ai cũng rõ: Phan Văn Trị dùng bút đánh Tôn Thọ Tường, không đơn giản như đánh một tên tay sai võ biền
dung tục …mà đối thủ của ông là bạn cũ, từng xướng họa với ông ở Thi xã Bạch Mai[20] ngày nào... Để rồi
bằng sức mạnh chính nghĩa, Phan Văn Trị đã giáng cho đối thủ của mình những đòn
bất ngờ, giành thế chủ động từ đầu đến cuối..."[21]
Trong Bản lược đồ văn học VN,
GS. Thanh Lãng cũng đã viết:
Phan Văn Trị là phát ngôn viên cho phe chủ chiến. Chính ông đã đập vỡ cái
thành trì yên lặng của nhà Nho, xung phong đứng ra tố cáo và kết án phái chủ
hòa. Mỗi khi phe địch lên tiếng biện hộ, thanh minh... là ông lại viết bài vạch
trần mưu mô, tâm địa thấp hèn của họ. Cái mới mà Phan Văn Trị đưa vào văn học
thế hệ này chính là ở chỗ đó...[22]
Đề cập vai trò của ông trong cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường, Từ điển văn học (bộ mới) có đoạn:
Bị dư luận lên án gay gắt, Tôn Thọ Tường làm bài thơ "Từ Thứ quy
Tào" để ngụy biện, chống đỡ cho hành động phản dân hại nước của y. Phan
Văn Trị công kích luận điệu của Tường bằng bài thơ "Hát bội".
Cuộc bút chiến dưới hình thức họa thơ nổ ra từ đó. Tôn Thọ Tường làm 10
bài thơ liên hoàn tự thuật, tán dương sức mạnh vật chất của thực dân, cho rằng
lực lượng kháng chiến non kém khó mà địch nổi, và trong thực tế cuộc kháng chiến
đang lâm vào cảnh bi thảm. Cho nên người trí thức khôn ngoan là phải biết tùy
thời mà ở.
Họa lại những bài thơ ấy, Phan Văn Trị đã mắng Tôn Thọ Tường bằng những lập luận sắc sảo, bằng những hình tượng độc đáo, rất đắt...Trong cuộc họa thơ này, Phan Văn Trị đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ vào cuộc như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Lê Quang Chiểu..[23].
Trích một bài thơ họa:
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
Chẳng đã nên ta phải thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc muội tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thủa,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá, há lung lay.
Tưởng nhớ Phan
Văn Trị
Đức độ
và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Trong số đó có
cai tổng Định Bảo tên là Lê
Quang Chiểu[24] xem ông như một bậc
thầy, nên đã giới thiệu người em gái con cô con cậu là Đinh Thị Thanh[25]
(1835 – 26 tháng 6 năm 1911) kết duyên cùng ông Trị.
Ông Chiểu
cũng cho người dựng một mái nhà tranh lá cho Phan Văn Trị nương náu và khi ông
Trị mất đã được chôn trên phần đất của vị cai tổng này.
Ngày
trước, mộ Phan Văn Trị chỉ là một nấm mồ bằng đất giản dị[26].
Năm 2005, chính quyền cùng nhân
dân đã cho xây dựng đền thờ, trùng tu phần mộ Phan Văn Trị và cải táng mộ vợ
ông ở gần đó về nằm cận kề, trong khu đất rộng, phía trước là con lộ trải nhựa
rộng khoảng 5 m và con rạch Cái Tắc, thuộc ấp Nhơn Lộc
I, thị trấn Phong Điền, huyện Phong
Điền, thành
phố Cần Thơ thành một nơi khang trang, rộng rãi và đẹp đẽ.[27] và
hàng năm, đều có tổ chức lễ giỗ trọng thể.
Trước 1975, vì là vùng chịu nhiều bom đạn, nên cơ ngơi bằng
gạch bề thế của ông Chiểu cũng đã đổ nát hết, và căn nhà tre lá của cử nhân Trị
cũng không còn sót lại bất cứ vật dụng gì. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương
Phan Văn Trị, đầu năm 1998, chính quyền huyện Giồng Trôm (tỉnh Bến Tre) cũng đã cho xây dựng
nhà tưởng niệm Phan Văn Trị. Công trình đã hoàn thành vào dịp kỷ niệm 89 năm
ngày mất của ông (22
tháng 6 năm 1999).
Hiện
nay, nhiều trường học, đường phố ở nhiều nơi mang tên Phan Văn Trị.
Phong cảnh
trong khu đền thờ và mộ Phan Văn Trị.
*
Lời bình
Ngân Triều
Hai bài thơ xướng họa độc đáo lấy tích từ truyện Tam Quốc
Chí Diễn Nghĩa.
Tôn Phu
Nhân là em ruột Tôn Quyền, vua nước Đông Ngô đời Tam Quốc. Tôn Quyền căm thù Lưu Bị về việc Lưu
Bị đã phổng tay trên, chiếm Kinh Châu không tốn một mũi tên hòn đạn, trong khi
Đông Ngô phải hao tốn tiền của, hao tướng tốn quân khi đánh nhau chí chết với đại
quân của Tào. Để rửa hận, Tôn Quyền theo kế của quân sư Châu Du
tự là Công Cẩn giả bộ cầu thân với Lưu Bị vua nước Hán (nước Thục). Tôn
Quyền mời Lưu Bị qua Giang Đông nói là gả em gái để kết tình lân bang giao hảo,
định dùng phục binh giết chết trong tiệc rượu. Âm mưu sắp đặt bí mật không tiết
lộ bên ngoài.
Khổng Minh là quân sư của Lưu Bị biết rõ
âm mưu thâm độc của Tôn Quyền liền bày kế cho Lưu Bị, khi sang đất
Ngô. Khi Lưu bị đến kinh thành Đông Ngô, cho ba quân cận vệ ăn mặc
sang trọng, chi tiền hào phóng, vào chợ tuyên bố ầm lên là vua nước
Thục được vua nước Ngô mời sang để gả em gái. Việc
nầy thấu tai đến bà Ngô Quốc Thái, mẹ của Tôn Quyền. Biết mưu mô xảo
quyệt của Tôn Quyền, Bà cho gọi Tôn Quyền, mắng cho một trận, rằng tại sao
lại dụng kế tiểu nhân để tiếng nhơ muôn đời, và con gái của Bà mang tiếng dang
dở một đời chồng. Cuối cùng, nhận thấy Lưu Bị là người đạo đức, có
chân mạng đế vương, bà buộc Tôn Quyền phải tôn trọng lời hứa và nhất quyết gả
con gái cho Lưu Bị. Tôn Phu Nhân không rõ mưu kế của anh, vâng lời mẹ kết duyên
với Lưu Bị.
Thất bại mưu kế hại Lưu Bị, Tôn Quyền định dùng quyền tước và phú quý mua chuộc
Lưu Bị để giam lõng ông ở Đông Ngô. Nhưng theo kế sắp sẵn của Khổng
Minh và lòng cương quyết theo chồng cho trọn đạo tòng phu của Tôn Phu Nhân, nên
cả hai vợ chồng Lưu Bị trở về đất Hán được bình yên.
Nhìn lại cuộc bút chiến giữa Phan
Văn Trị và Tôn Thọ Tường qua bài thơ Tôn Phu Nhân Qui Thục . Có thể đây là một hiện tượng hiếm hoi trong lịch sử văn học Việt
Nam, một cuộc bút chiến,
xướng họa thơ giữa hai nhà Nho Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị. Trong
thời điểm đất nước đang bị thực dân Pháp xâm lược. Cuộc bút chiến nầy đã góp phần
làm phong phú nền văn học nước nhà, có thể gọi một hiện tượng "vô tiền
khoáng hậu". Việc họa thơ văn từ trước tới nay vẫn thường xảy ra trên văn
đàn, nhưng họa xướng theo đúng nghĩa của nó, xem ra chỉ có Phan Văn Trị và Tôn
Thọ Tường, và đó chính là một đề tài, để chúng ta cùng tham khảo.
Bài
thơ nầy Tôn Thọ Tường đã mượn tâm sự của một Quận Chúa đất Giang Đông, Tôn Phu Nhân đi theo chồng về đất Thục, thanh minh việc ông ra hợp tác với Pháp:
--- Hai
câu đề [xướng]: (TTT)
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Nghìn Thu rạng tiết gái Giang Đông
𦛋 馭 青 鎌 院 𡦂 從
𠦳 秋 節 節 𡛔 江 東
Việc xuất
giá tòng phu của TPN là đúng và rỡ ràng.
“Đúng”
là việc lấy chồng và theo chồng về Hán là Lưu Bị của nàng đã được mẹ, Bà Quốc
Thái và anh ruột là Tôn Quyền đồng ý tác hợp và cũng đúng với truyền thống Nho
gia là người con gái phải ứng xử phù hợp với phẩm hạnh tứ đức, tam tòng, vẹn
chữ tòng.
Rỡ ràng
là theo chồng, không phải bỏ nhà theo trai và phong cách ra đi rất lẫm liệt,[28]
hiên ngang, “cật ngựa, thanh gươm”, như thói quen khác lạ, ưa thích
phong cách anh hùng mã thượng của nàng.
-Việc theo chồng của TPN là đúng
và rỡ ràng cũng như việc theo Tây của tôi (TTT).
*** Hai câu đề [họa]: (PVT)
Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông.
掑橬𢯢襖院句從
𩈘𨁟𡗶𣊿别𡎝東
Phong
cách và thời gian theo chồng của TPN.
Cài trâm sửa áo là có chuẩn bị trước cho
sự ra đi.
Mặt ngả là cúi mặt, tâm lý và
thái độ của kẻ đã làm điều không đúng; trời chiều: trời sắp tối; ra đi một
cách không quang minh chính đại mà có vẻ lén lút, e dè.
Biệt
cõi Đông: xa cõi Đông nghìn trùng (tức là đến với cõi Tây, nơi Thực dân Pháp)
TTT theo Tây, có sự sắp đặt trước,
lén lút. Thật là xấu hổ thay!
--- Hai câu thực [xướng]: (TTT)
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán thờ ơ mảnh má hồng.
離吳𥾽緬笘𩄲泊
衛漢徐於𤗖𦟐紅
Nỗi niềm
riêng khi TPN đi theo chồng.
Tuy về
Ngô, lòng tôi (TPN) vẫn thương nhớ cha mẹ, bịn rịn chòm mây bạc. Tuy về
Hán, theo chồng nhưng bản thân, mảnh má hồng, còn đâu niềm vui lúc trước,
thân phận sẽ rất thờ ơ.[29]
“Bịn rịn” là thương nhớ tha thiết,
không khuây, lưu luyến như không muốn rời xa; “chòm mây bạc” tức là mây
trắng trong điển tích “bạch vân tư thân”[30]白 雲 思 親 thường dùng để chỉ tấm
lòng thương nhớ cha mẹ, quê hương.
Khi
theo chồng về Hán, tôi (TPN) chắc rằng đời tôi sẽ vô vị, buồn tênh.
-Dẫu phải
rời xa quê, lòng tôi (TTT) vẫn đoái tưởng đến cha mẹ già, quê hương. Dẫu phải sống
với giặc Tây, lòng tôi vẫn cứ lạnh lùng, nhạt nhẽo.
*** Hai câu thực [họa]: (PVT)
Khói tỏa đồi Ngô un sắc trắng,
(3’)
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
𤌋鎖隤吳印色𤽸,
縁衛坦蜀淡牟紅.
Cảnh và
tình khi TPN theo chồng.
Khói tỏa là khói lửa lan rộng ra,
chỉ cuộc chiến giữa các phong trào đấu tranh chống Pháp ngày càng sôi động khắp
nơi; đồi Ngô, là đồi ở xứ Đông Ngô là quê hương của TPN, chỉ quê hương; un
là còn cháy, trong tro còn lửa, chưa tắt; đượm là đậm, màu hồng nghĩa
bóng là sung sướng, hạnh phúc; đượm màu hồng là sung sướng, hạnh phúc dạt
dào, bội phần.
• Khi
theo giặc ra đi, mắt ông (TTT) có thấy quê hương ta đang chìm trong khói lửa
chiến tranh tang tóc, và các cuộc kháng chiến chống giặc lan rộng, khắp nơi, đến
bây giờ vẫn còn nóng hầm hập, chưa tắt. Vậy mà ông vẫn ngó lơ, theo giặc để một
mình giàu sang phú quý, vinh thân phì gia.
--- Hai câu luận [xướng], (TTT):
Son phấn đành cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
𣘈 粉 仃 甘 𠼪 𩙍 𡏧
𥒥 鐄 之 氐 𢢆 𡽫 滝
Son phấn, tu từ hoán dụ, chỉ (TPN)
sẽ dập vùi cùng gió bụi vì thân gái 12 bến nước, trong nhờ đục chịu; dù tấm
thân bị dập vùi trong gió bụi, nàng cũng đành chấp nhận duyên phận của mình,
không bao giờ lỗi đạo; đá vàng là chuyện son sắt thủy chung, nhắc làm
chi cho thẹn với non sông, tức là ông TTT không chung tình với Triều đình Huế.
(Có lẽ, triều đình Huế chưa từng hậu đãi TTT và ông đã từng theo sứ bộ của Phan
Thanh Giản sang Pháp thấy nền văn minh và sức mạnh của Pháp cho nên làm sao ông
có thể trân trọng, thủy chung với nước, với dân? [31]
-Theo
giặc, thân tôi, (TTT), đành cam dập vùi trong gió bụi,
Chuyện
thủy chung nói làm gì cho thẹn với non sông, (với nước, với dân).
*** Hai câu luận [họa] (PVT)
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cương thường nặng núi sông
𠄩 𦠘 絲 𩯀 𥾽 𡗶 坦
沒 挭 綱 常 𥘀 𡶀 滝
Luận về tơ tóc và cương
thường.
Tơ tóc là kết tóc xe tơ; kết
tóc do chữ Hán là kết phát[32].
Ở đây, hai vai tơ tóc là ca ngợi TPN giữ đúng đạo nghĩa tứ đức tam tùng, bỏ xứ
theo chồng thì tiếng khen mãi mãi bền cùng trời đất.
Cương thường [33]
là tam cương và ngũ thường, quy định của Nho giáo về cách ứng xử của người con
trai trong xã hội phong kiến.
TPN là
vậy, còn nam nhi, một gánh cương thường như ông, (TTT) thì ông phải làm gì để
trả ơn sâu nghĩa nặng cho đất nước quê hương?
Phải
chăng PVT đã nói thẳng với TTT rằng: “Tôn Phu Nhân đã vẹn hai vai tơ tóc” là trọn
đạo thờ chồng. Gánh cương thường của TPN là đem lại hòa khí và an bình cho hai
nước. Còn ông, ông theo về với Pháp có đúng theo “gánh cương thường” không? Nếu
không, ông đã bất trung với Vua, bất nghĩa đối với nước mãi quốc cầu vinh, vậy
còn khoe khoang đạo nghĩa làm gì nữa?
--- Hai câu kết [xướng],
(TTT)
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng
唉衛𠴍𠇍周公謹
他𠅍𢚸偀鄧䏾𫯰.
Lời nhắn
gởi của tác giả.
Chu
Công Cẩn là quân sư và vị tướng tài giỏi nhất của Tôn Quyền. Ở đây, TTT muốn
nói đến nhóm nhà Nho đối lập với mình; mất lòng anh là mất lòng Chu Công Cẩn
hay là mất lòng quý anh, những người đối lập; đặng bụng chồng là được lòng thực
dân Pháp.
-Xin
cho tôi (TTT) nhắn gởi với quý anh điều nầy. Thà mất lòng quý anh, mà được lòng
người Pháp thì cũng thỏa lòng rồi!
*** Hai câu
kết [họa], (PVT)
Anh hỡi!
Tôn Quyền, anh có biết?
Trai
ngay thờ chúa gái thờ chồng.
英 唉 孮 權 英 𣎏 别
𤳆 𣦍 𥚤 主 𡛔 𥚤 𫯰.
Thác lời
của TPN nói với anh ruột là Tôn Quyền.
Anh Tôn
Quyền[34]
ơi! Anh có biết? Tác giả PVT vừa thác lời TPN nói vói anh mình vừa nói thẳng thừng
với TTT vì Tôn Quyền và TTT cùng một họ Tôn. Đây là một câu hỏi tu từ để người
trong cuộc tự trả lời.
- Này
anh TTT, anh có biết không? Trai ngay thì thờ chúa, cũng như người con gái ngay
thì thờ chồng.
Anh đi
theo giặc, mãi quốc cầu vinh, không thờ chúa, vậy anh có phải người ngay không?
(Khen
Tôn Phu Nhân là người đàn bà, biết giữ tròn đạo nghĩa bao nhiêu thì PVT lại chê
trách TTT bấy nhiêu. TTT là trang nam nhi thì làm thế nào giống như hoàn cảnh của
Tôn Phu Nhân được. Xưa nay, người con gái ngay, tiết hạnh là phải làm tròn bổn
phận người vợ hiền; người con trai ngay phải trọn đạo cương thường, làm tôi đối
với chúa. Trong lúc non sông nghiêng ngửa như thế nầy, mà ông, (TTT), quay lưng
ra hợp tác với kẻ thù cướp nước thì sao lại gọi là “ trai ngay” được?!
Khái
quát lên, có phải chăng chính Ông (TTT) là kẻ phản bội tổ quốc, gian trá điêu
ngoa) (?).
Ý thơ
đúng theo cốt truyện, đúng theo phong cách ngôn ngữ nói. Bút pháp ứng đối đốp
chát, không khoan nhượng của một nhà thơ soi sáng cho người bạn thơ, đứng trên
quan điểm, lập trường của lẽ phải, yêu nước, thương dân.
Tóm lại,
những vần thơ thời thế của Tôn Thọ Tường và Phan văn Trị đã phản ánh những biến
cố lịch sử trong buổi giao thời của hai nền văn minh Đông - Tây bắt đầu đối
kháng và ưu thế thuộc về nền văn minh Tây phương.
Chúng
ta thấy, cả hai ông đều dùng văn thơ để bày tỏ tâm sự và chí hướng, vì thế thơ
văn của hai ông rất chân thành, dễ rung cảm lòng người, nhất là một cuộc bút
chiến, xướng – họa thực sự đúng theo ý nghĩa của nó.
Đây là
một hiện tượng hiếm thấy trong nền văn học Việt Nam [35].
Cái độc
đáo trong ý thơ và ngôn từ, trong tư tưởng chính diện và phản diện, trong phong
cách xướng họa là ở chỗ sâu lắng và thú vị đó vậy. ֎
Ngân
Triều
Chú thích:
[1] Tôn
Phu Nhân: Tôn phu nhân (chữ Hán: 孫夫人), không rõ năm sinh năm mất, là một
người vợ của Thục chúa Lưu Bị, người đã lập ra Thục Hán vào thời kì thời Tam Quốc
trong lịch sử Trung Quốc.
Theo những gì ít ỏi được viết
về bà, Tôn thị là con gái duy nhất và là con nhỏ nhất của Trường Sa thái thú
Tôn Kiên, và là em gái của Tôn Sách và Tôn Quyền, những người tạo dựng cơ nghiệp
nước Đông Ngô, một thế lực từng lập liên minh với Thục Hán trong một thời gian
dài trước khi trở mặt. Bà không được ghi lại tên thật, nhưng thường được biết đến
với tên Tôn Nhân (孫仁) trong Tam Quốc diễn nghĩa, Tôn Thượng Hương (孫尚香)
trong Kinh kịch. Ngoài ra, bà còn có tên khác nữa là Cung Yêu Cơ (弓腰姬).
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.
Ca dao
[3]
Giang Đông: là ở phía Đông sông Trường
Giang, lãnh thổ của Đông Ngô.
[4] Ngô: Nhà Đông Ngô dưới sự cai trị của Tôn
Quyền thời Tam Quốc.
[5] Bịn rịn: thương nhớ không khuây, bứt đi
không đặng, ấy là đi không đứt, bứt không rời.
[6] Hán, nhà Thục Hán, dưới sự cai trị của Lưu
Bị, thời Tam Quốc.
[7] Trau tria: trau chuốt, trang điểm cho xinh
đẹp, lộng lẫy. Có bản chép là thờ ơ: 𥚤於 là chểnh mảng, nhạt nhẽo, không thiết tha.
NT xin sử dụng thờ ơ.
[8] Son phấn: phẩm vật trang điểm, làm đẹp. Ở
đây ý muốn nói, tài năng sẽ chôn vùi trong gió bụi, không bao giờ dùng đến nữa.
[9]
Đá vàng: chữ Hán là kim thạch, chỉ chuông vạc bằng đồng và bi kệ bắng đá, đời
xưa người ta dùng để khắc ghi công trạng cho được bền lâu. Nghĩa bóng chỉ lòng
trung thành hay tình yêu bền vững hay tiết tháo kiên trinh.
Sớm đào tối mận lân la,
Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng.
Kiều, Nguyễn Du, câu 1289-1290.
[10] Chu Công Cẩn: Tức Chu Du, là quân sư
và một tướng giỏi của Tôn Quyền.
[11]
Tơ tóc là kết tóc xe tơ. Kết tóc do chữ
Hán là kết phát, con trai đến tuổi kết tóc để đội mũ, con gái đến tuổi kết tóc
để cài trâm gọi là tuổi kết hôn. Xe tơ: tức là cho kết hôn. Theo điển Nguyệt
Lão xe chỉ hồng buộc chân vợ chồng với nhau, thành vợ thành chồng. Ở đây ý nói
trân trọng tình nghĩa vợ chồng với nhau.
[12] Tam cương: tam là ba, cương ( cang) là giềng mối. Tam
cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu thê (chồng
vợ). Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra
trên những nguyên tắc “chết người”.
1. Quân thần: ("Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung"
nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh,
nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua)Trong quan hệ vua
tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ.
2. Phụ tử: ("phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là:
cha khiến con chết, con không chết thì con không có hiếu)").
3. Phu thê: ("phu xướng phụ tùy" nghĩa là: chồng nói, vợ phải
nghe theo).
Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường là
năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
1. Nhân: (tính người) Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
2. Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
3. Lễ: Sự tôn trọng, hòa
nhã trong khi cư xử với mọi người.
4. Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
5. Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
[13] Bấy lâu các sách Việt ngữ đều in câu bảy là
“Anh hỡi Tôn Quyền, anh có biết” đọc
làm vậy, tin làm vậy cho đến hôm nay nhìn trong bổn chữ nôm nầy, thấy viết:
“Anh hỡi Tôn công, anh có biết”, nghiệm ra chữ đó có phần “ổn” hơn, “êm” hơn,
vì phép xưa có lẽ nào Tôn quận chúa là người văn hay võ giỏi lại “hỗn” như thế.
Đối với anh, một vị vương, kêu xếch mé làm sao nên? Vậy xin đính chính, và dám
nhờ các bậc cao minh phủ chính cho.
“Anh hỡi Tôn công,...” chữ “công”
đáng giá ngàn vàng! (tôi thiệt có phần với sách mới gặp bổn chữ nôm nầy.
[Trong đối thoại thì nên dùng Tôn Công cho hợp lễ. Ở đây có thể sử dụng
Tôn Quyền, chỉ Tôn Thọ Tường thì hợp lý hơn. Do đó, NT xin ghi là Tôn Quyền].
Học giả
Vương Hồng Sển trong Thú chơi sách có đính chính như
trên.
[14] Theo GS. Trịnh
Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (quyển 2) NXB. Hồn
Thiêng, Sài Gòn, 1966. Nhưng Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn
Bá Thế thì cho là một chức quan "nhỏ" (không phải quan võ).
[15] GS. Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (quyển
2), tr. 1246.
[16] Ghi
theo Từ điển văn học (bộ mới, tr. 1403). Theo GS. Trịnh Vân Thanh
(trang 1246) thì sau khi ông về dạy ở trường Hậu Bổ mới được thăng đốc phủ sứ.
[17] Tham biện Alix Salicetty bị nghĩa quân ở Vũng Liêm phục binh giết
chết. Xem chi tiết ở trang Lê Cẩn.
[20] Vùng Ba Láng - Trà Niềng, khi xưa được gọi là Láng Hầm, nay thuộc thành phố Cần Thơ.
Trà Niềng là tên một con rạch ở thị trấn Phong Điền, nằm cách khu đền mộ của
nhà thơ Phan Văn Trị khoảng vài trăm mét.
[21] Bạch Mai thi xã gây được tiếng vang vào khoảng giữa thập
niên 1850. Đó là nơi hội tụ của các vị khoa bảng như: Phan Hiển Đạo, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông... Xu hướng
chung của nhóm là ca ngợi thiên nhiên đất nước, đề cao thú vui của kẻ sĩ. Khi
quân Pháp đánh chiếm vùng Gia Định thì thi xã cũng tan rã luôn.
[22] Thanh Lãng, Bản lược đồ văn học VN (quyển 2), Nxb Trình
Bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản,
tr.56-57.
[24] Sau này, Cai tổng Chiểu cũng bỏ luôn quyền chức,
đứng về phía những sĩ phu và nhân dân yêu nước. Trong trận bút chiến giữa Phan
Văn Trị và Tôn Thọ Tường, ông Chiểu cũng có làm 10 bài thơ họa lại để đả kích
Tôn Thọ Tường.
[25]
Năm 1942,
hai ông là Kiều Thanh Quế và Lê Thọ Xuân đã
đến Phong Điền, gặp được học trò của Phan Văn Trị là Hồ Kim Đính, khi ấy đã già
yếu và đang lâm bệnh nặng. Nhờ ông Đính chỉ dẫn, hai ông mới tìm ra ngôi mộ
Phan Văn Trị đang nằm ở sau nhà ông Lê Quang Thừa. Đó là một nấm mộ "không
có bia, không tam cấp đá, không có gò đất đắp vun lên…" (theo Kiều Thanh
Quế, Hoài niệm vong linh Cử Trị: ngôi mả hoang. Tạp chí Tri
Tân, Hà Nội, số 75, 1949, tr.19-20). Như vậy, tấm bia rêu phong (ảnh), chắc có sau cuộc viếng
thăm này.
[26] Bà Đinh Thị Thanh trước đây mang họ Trần,
nhưng do cuộc khởi nghĩa của Đinh Sâm nổ ra ở Láng Hầm - Ba Láng (Cần Thơ) vào năm 1868. Lãnh tụ Sâm đã giết
chết cai tổng Nguyễn Văn Vĩnh, nên từ đó dòng họ Đinh phải đổi sang họ Trần vì
sợ bị trả thù và bị chính quyền bắt bớ...Và lúc Phan Văn Trị còn khỏe, cả nhà sống
lây lất nhờ nghề dạy học của ông, cho nên đến khi ông mất, gia cảnh sa sút rất
nhanh, bà Thanh phải làm nghề giã gạo mướn để kiếm sống qua ngày. Sau bà tục
huyền với ông Trụ, một người cùng nghề, nhưng chẳng bao lâu sau thì bà mất. Trước
khi được cải táng, mộ bà nằm cạnh mộ em gái tên Đinh Thị Nhàn, ở gần trường phổ
thông cơ sở Nhân Ái I. Người quản lý khu mộ Phan Văn Trị còn cho biết: Ông Phan
Văn Trị sống với bà Thanh có bốn người con (2 trai, 2 gái), nhưng tứ tán đã
lâu. Ở Phong Điền hiện nay không còn con cháu ông Trị, chỉ thỉnh thoảng có một
nhóm người nói là cháu chắt của ông từ Thành phố Hồ Chí Minh đến thăm viếng...
[27] Công trình hoàn thành vào ngày 19 tháng 12 năm 2005
[29] Thờ ơ: chểnh mảng, không thiết tha, nhạt nhẽo.
[30] Tích Ông Địch Nhân Kiệt, đời Đường, làm Tham
Quân ở Tinh Châu, bận việc quân, nhiều năm chưa về vấn an cha mẹ ở Hà Dương. Một
hôm, lên núi Thái Hàng, Ông chợt nhìn thấy một đám mây trắng ở cuối chân trời.
Lòng bồi hồi, ngậm ngùi bảo thủ hạ: “Nhà cha mẹ già yếu của ta ở dưới đám mây
trắng đó”...Rồi giọt ngọc tuôn rơi.
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông
vời cố quốc biết đâu là nhà.
Kiều - Nguyễn Du,
câu 1787-1788),
[31] Thủy chung: thủy là đầu tiên, chung là cuối cùng. Ý đề cao một tấm lòng trước sao, sau vậy, mãi mãi không hề đổi thay.
[32] Kết phát, nghĩa là khi đến 20 tuổi kết tóc để
đội mũ gọi là lễ gia quan 加冠 (thêm nón); con gái đến tuổi 15 thì được cài trâm
(kê) để thể hiện mình là thiếu nữ trưởng thành có thể đem gả chồng được. Giảng
nghĩa đen bám sát theo từ tố thì có thể hiểu đại khái “cập kê” 及笄 (cập) là tới及[thời điểm cài] trâm笄(kê).
[33] Trích chú thích đã ghi bên trên số [64].
Tam cương: tam là ba, cương ( cang) là giềng mối.
Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu thê (chồng
vợ). Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra
trên những nguyên tắc “chết người”.
1. Quân thần:
("Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" nghĩa là: dù vua có bảo cấp
dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh
thì cấp dưới không trung với vua) Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn
luôn công minh, tôi trung thành một dạ.
2. Phụ tử:
("phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con
không chết thì con không có hiếu)").
3. Phu thê:
("phu xướng phụ tùy" nghĩa là: chồng nói, vợ phải nghe theo).
Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường
là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
1. Nhân: (tính người) Lòng yêu thương đối với
muôn loài vạn vật.
2. Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình
theo lẽ phải.
3. Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử
với mọi người.
4. Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện
ác, đúng sai.
5. Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
[35] Thời Tây Sơn chúng ta cũng thấy có một cuộc
bút chiến giữa một bên ca ngợi triều đại Tây Sơn và một bên đả kích Tây Sơn với
thái độ hoài Lê. Đó là nội dung hai bài phú: Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng
và Chiến tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái, rất nổi tiếng.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét