[Bài 2] Bài thơ
Thuaät hoaøi (Thuật hoài)
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma. Tranh Google.
Nhân đọc mấy câu thơ trong bài Chí nam nhi,[1] tôi bỗng nhớ đến Đặng Dung, người anh hùng mạt lộ và một bài thơ duy nhất Thuật hoài[2] của ông, thở than vận nước; Trời Xanh sao chẳng chiều người nhưng ý thơ ngời ngời ánh thép đấu tranh; tận nhân lực, tri thiên mệnh:[3]
Thuaät hoaøi (Thuật hoài)
Thế
sự du du nại lão hà?
Vô
cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời
lai đồ điếu thành công dị,
Vận
khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí
chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy
binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc
thù vị phục đầu tiên bạch
Kỷ
độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
*
Bản chữ Hán
述 懷
鄧 容 ( ? – 1414)
世 事 悠 悠 奈 老 何?
蕪 窮 天 地 入 酣 歌
時 來 屠 釣 成 功 易
運 去 英 雄 飮 恨 多
致 主 有 懷 扶 地 軸
洗 兵 無 路 挽 天 河
國 讎 未 复 頭 先 白
幾 度 龍 泉 帶 月 磨
Dịch nghĩa:
( 1 ) Việc đời day dứt (rối rắm) mà ta đã già thì biết làm thế nào?
( 2 ) (Phải chăng) Trời đất mênh mông, (như) hòa nhập
trong tiếng hát say!
( 3 ) Gặp thời, kẻ mổ heo, người kiếm cá đều dễ
thành công.
( 4 ) Lỡ vận, người anh hùng đành phải nuốt hận nhiều,
( 5 ) Giúp Chúa những mong xoay (thay đổi) trục đất
( 6 ) (Tiếc rằng) Chuyện rửa giáp binh , không còn cách
nào, để kéo sông Trời.
( 7 ) Thù nước trả chưa xong , đầu đã
bạc,
( 8 ) Bao phen rồi, ta mài kiếm Long Tuyền dưới ánh trăng!
Các
bản dịch thơ:
Bản dịch của Phan Kế Bính
Việc
đời bối rối tuổi già vay ?
Trời
đất vô cùng một cuộc say.
Bần
tiện gặp thời, lên cũng dễ;
Anh
hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai
khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp
gột sông trời khó vạch mây.
Thù
trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm
mài bóng nguyệt biết bao rày !
Phan Kế Bính dịch,
(Đại Nam nhất thống chí (Đông Dương tạp chí, số 116)
Bản dịch của
Tản Đà:
Việc
đời man mác, tuổi già thôi!
Đất
rộng, trời cao chén ngậm ngùi.
Gặp
gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan
tành sự thế luống cay ai!
Phò
vua bụng những mong xoay đất,
Gột
giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu
bạc giang san thù chửa trả,
Long
Tuyền mấy độ bóng trăng soi!
Tản Đà dịch
***
Sơ lược
tiểu sử Đặng Dung:
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
là nhà thơ và là danh tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam.
國 讎 未 复 頭 先 白
幾 度 龍 泉 帶 月 磨
Quốc thù vị phục đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
[1] Thân thế và sự nghiệp
Đặng Dung là người xã Tả Hạ, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ
An[5] (nay là huyện Can
Lộc, tỉnh Hà
Tĩnh). Ông là con trai
cả của Quốc công Đặng Tất.
Theo "Đặng Tộc Đại Tông Phả[6],
ông tổ 4 đời của Đặng Tất là Đặng Bá Kiển vốn cư ngụ ở vùng kinh kỳ Thăng Long,
sau đó di dời vào Nghệ An châu. Con trưởng của Bá Kiển là Đặng Bá Tĩnh đỗ thám hoa đời nhà
Trần. Bá Tĩnh chính là
ông nội của Đặng Tất. Con trưởng của Bá Tĩnh là Đặng Đình Dực chính là cha Đặng
Tất[7].
Dưới triều nhà
Hồ, ông giúp cha
là Đặng Tất (? - 1409) cai quản đất Thuận
Hóa[8].
Sau khi quân Minh tiến chiếm nước Việt (khi ấy,
nước ta có quốc hiệu
là Đại Ngu), nhà
Hồ sụp đổ, Đặng
Dung cùng cha tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi (tức Giản Định Đế).
Năm 1409, sau trận đại chiến ở Bô Cô (xã Hiếu Cổ, huyện Ý
Yên, thuộc tỉnh Nam
Định ngày nay);
“vì nghe lời gièm pha của bọn hoạn quan là Nguyễn Quỹ, nói rằng Đặng Tất chuyên
quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân[9]. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi (Giản Định Đế), cùng
Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rước Trần Quý Khoách từ Thanh
Hóa về đất Chi
La (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà
Tĩnh), tôn lên ngôi
vua (tức Trùng Quang Đế), và ông được giữ chức Đồng bình chương sự.
Về sau, do nhu cầu cần phải hợp nhất
hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoách do Nguyễn Súy cầm đầu đã tổ chức
đánh úp vào Ngự Thiên, đem Trần Ngỗi ( Giản Định Đế) về Chi La tôn làm Thượng
Hoàng.
Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã
giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung ông đã “vượt lên trên tất cả, trước sau
vẫn giữ vững phẩm chất đường hoàng của một vị tướng”[10].
Từ đó ông trải qua rất nhiều trận giao chiến, nổi bật hơn cả là trận đánh
vào tháng 9 năm Quý
Tị (1413) ở khu vực Thái Gia[11].
[2] Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép:
Đang khi đôi bên
quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng
binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của (Trương) Phụ.
(Đặng) Dung đã nhảy lên thuyền của (Trương) Phụ và định bắt sống (Trương) Phụ
nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế, (Trương) Phụ liền nhảy
sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới
bị đốt phá gần hết, thế mà (Nguyễn) Súy không biết hợp lực để cùng đánh.
(Trương) Phụ biết quân của (Đặng) Dung ít nên lập tức quay lại đánh. (Đặng)
Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết[12].
[3] Nguyễn
Khắc Thuần kể tiếp:
Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống
khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị
đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng Dung cùng Trần Quý Khoách, Nguyễn
Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Nửa
đường, Trần Quý Khoách nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cùng các tướng cũng lập
tức nhảy xuống biển tuẩn tiết.[13]
[4] Trần Trọng Kim cũng
cho biết tương tự:
Từ khi thua trận ấy
rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể chống với quân giặc được nữa, phải
vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng được bao lâu Trần Quý Khoách, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy
đều bị bắt, và phải giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Quý Khoách nhảy xuống
bể tự tử, bọn ông Đặng Dung cũng tử tiết cả. Ông Đặng Dung có làm bài thơ Thuật hoài, mà
ngày nay còn có nhiều người vẫn truyền tụng.
Cha con ông Đặng
Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng
trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy
hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh...[14]
[5] Theo Minh Thực lục, thì:
Quan Tổng binh Anh
quốc công Trương Phụ mang quân đến Tra Hoàng, huyện Chính Hoà, châu Chính Bình
(Quảng Bình); tướng giặc là Hồ Đồng hàng. Nghe tin bọn Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung,
Long Hổ Tướng quân nguỵ Lê Thiềm hơn 700 tên chạy đến Côn Bồ, Tiêm Man ; bọn
Phụ tiến binh ngay đến sông La Mông. Phải theo đường núi vin cành lá mà leo lên
nên đành bỏ ngựa, tướng sĩ tiếp tục đi theo. Đến sách Côn Bồ, bọn Cảnh Dị đã bỏ
trốn ; lại truy kích đến Tra Bồ Nại, bọn giặc và dân địa phương đều trốn,
không biết ở chốn nào, nên làm cuộc lục soát lớn. Vào canh tư, đi trên 20 dặm,
nghe tiếng trống điểm canh, Phụ sai Đô Chỉ huy Phương Chính mang quân lẳng lặng
đi, đến lúc trời sáng đến phía bắc sông, tại Tra Bồ Cán. Giặc lập trại tại bờ
phía nam, quan quân vượt sông vây đánh. Giặc chống không nổi, tên bắn liên tiếp
trúng, Cảnh Dị bị thương tại sườn, bắt được. Đặng Dung trốn, Phương Chính mang
quân truy lùng, bắt được Đặng Dung cùng với em là Đặng Nhuệ. Bắt hết bọn giặc
Lê Thiềm, tịch thu ấn nguỵ của Cảnh Dị. Cảnh Dị bị thương nặng, bị róc thịt lấy
thủ cấp, áp giải cùng anh em Đặng Dung đến kinh đô; tất cả đều bị xử chém để
làm răn. (Minh Thực Lục quyển 13, tr. 1727-1728; Thái Tông
quyển 147, tr. 2a-3b).
[6] Hậu duệ của Đặng Dung:
-Đặng Nghi (lập nghiệp tại
Chúc Sơn, Chương Đức)
-Đặng Địch Quả (Giám sinh
Quốc tử giám, về sống tại lại Tả Thiên lộc)
-Đặng Di (lập nghiệp tại Sơn Vi, Mao Phổ
thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay)
-Đặng Công Thiếp (đỗ Hoàng
giáp, di cư đến Sơn Đông, huyện Lập Thạch)
HẬU DUỆ NỔI TIẾNG:
-Tiến sĩ, Thượng thư Đặng
Minh Khiêm (1457-?)
-Thái Úy, Nghĩa Quốc Công Đặng
Huấn (?-1583)
-Tiến sĩ, Quốc lão Đặng
Đình Tướng (1649-1735)[15]
-Đặng
Lương Mô (có hơn 300 công trình khoa học công công bố ở Mỹ,
Nhật...hiện là Trưởng ban khuyến học họ Đặng)
Cảm hoài,
bài thơ duy nhất còn lại của Đặng
Dung.
*
Tài liệu tham khảo:
Danh nhân Bình Trị Thiên, Nhiều tác giả, NXB Thuận Hoá, 1986
Khâm định Việt
sử Thông giám cương mục
Đặng Tộc Đại Tông Phả, Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến sĩ
Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ
Hàn tiếp tục tục biên năm 1745, Nguyễn Văn Thành giới thiệu, NXB Văn hóa Thông
tin 2002
Họ Đặng “Nam
bang vượng tộc” thời Lý đến thời Lê, Nguyễn Văn Thành,
Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam
Danh nhân lịch sử Đặng Tất - Đặng
Dung, Đặng Huy Phúc, NXB trẻ, 2005.
***
[7] Lời bình, Ngân Triều.
Hai câu đề: Sự bất lực trước hoàn cảnh và nỗi buồn miên man.
Thế sự du
du nại lão hà?
Vô
cùng thiên địa nhập hàm ca.
世 事 悠 悠 奈 老 何 ?
蕪 窮 天 地 入 酣 歌
Bài thơ tự sự, mở đầu bằng những băn khoăn, tiếc nuối thời gian qua nhanh
thoảng chút u
buồn, bối rối. Trước một không gian cao rộng, với biết
bao công việc cần phải thực hiện ngay, kẻ tráng sĩ cứu nước nên ứng xử như thế
nào cho hợp lẽ.(?)
[Câu
1 ]
“Thế sự du du”[16] 世事悠悠 là việc đời buồn thảm, lê
thê, ngổn ngang, bộn bề phía trước. Điều đó không chỉ cảm nhận qua hiện thực thời thế,
qua những sự kiện xác thực của lịch sử thương đau mà nó còn được cảm nhận
bởi tấm lòng. Như thế thì việc đời buồn miên man không dứt, chạnh lòng vời
vợi, xót xa cay đắng, day
dứt
không yên, thể hiện một tâm trạng rối rắm bời bời của một tráng sĩ, một mãnh tướng
đang băn khoăn trên bước đường
cùng.
“Nại lão hà”[17], 奈老何: già rồi biết làm thế nào? Nghe như một lời thở
than đầy bất lực cho kiếp nhân sinh. Đã đành đời người chóng qua, dài trong
gang tấc, nhưng đã già thì việc dấn thân, mưu cầu công việc đại sự thì rất hạn
chế, nếu không nói là phải bất
lực, bó tay. Ông Xanh ơi, sao chẳng chiều người! Chẳng lẽ:
Soi gương mới sớm chiều thôi mà
“buồn ơi!” mái tóc mới óng mượt như tơ
như tuổi thanh xuân
phơi phới, mới sáng chiều thôi, bỗng biến thành phau phau như tuyết:
Quân
bất kiến,
Cao
đường minh kính bi bạch phát,
Triêu
như thanh ti, mộ thành tuyết.
Tương
tiến tửu – Lý Bạch.
君 不 見
高 堂 明 鏡 悲 白 髪
朝 如 青 絲 暮 成 雪
將 進 酒
- 李 白
Biết
chăng ai,
Gương
tỏ nhà cao,
Buồn
mái tóc
Mới
sáng óng như tơ,
Mà
tối đổi bạc phơ”.
Lời than thở, tiếc thương, bất lực cho kiếp sống phù du, sớm nở tối tàn - phân
vân, bối rối cho đại
sự sắp tàn,
việc lớn chưa tới đâu như đời chưa “trang
điểm” mà tuổi già đã đến, để thương cảm cho bản thân tàn tạ, suy yếu, gần đất
xa trời
- nghe bi thảm, buồn tênh.
[Câu
2]
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
蕪 窮 天 地 入 酣 歌
Vô cùng thiên
địa, 蕪 窮 天 地:
khoảng
trời đất mênh mông bao la;
nhập hàm ca 入 酣 歌
: hòa nhập, đồng cảm qua tiếng ca.
Cả câu có nghĩa là (Phải
chăng) Trời đất mênh mông,
(như cũng) cảm thông qua tiếng hát buồn!
Hai câu đề, mở
ra một không gian đất trời vô cùng,
lồng lộng, một hình ảnh cao rộng,
mênh mông.
Bốn câu thực luận:
Thời vận, hoài bảo và tiền đồ
Thời
lai đồ điếu thành công dị,
Vận
khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí
chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy
binh vô lộ vãn thiên hà.
時 來 屠 釣 成 功 易
運 去 英 雄 飮 恨 多
致 主 有 懷 扶 地 軸
洗 兵 無 路 挽 天 河
Bốn
câu thơ tiếp theo là bốn câu chắc nịch, mở rộng ý chính của chủ đề, thể hiện nỗi
lòng.
Hai câu thực là vấn đề thời thế và vận nước .
Câu [3], tác
giả đề cập chữ thời, 時 với ít nhiềui
khinh bạc, bi thương. Thời lai 時來 tức là thời cơ đến, được thời hay cơ hội đến đúng vào một thời điểm
nhất định, là thuận lợi, may mắn, thành công.
Khi gặp thời thì
kẻ mổ heo và người câu cá, đồ điếu 屠釣,
những kẻ bần tiện, nghèo hèn đều thành công dễ dàng.
Đồ điếu thành công dị,
屠釣成功易,
Sự
tích Phàn Khoái,
lúc hàn vi,
làm nghề đồ
tể, nghề
hàng thịt,
về sau trở thành một dũng tướng của Hán Cao Tổ. Hàn
Tín, lúc nghèo hèn, thường đi câu cá để đổi gạo ăn, về sau
trở thành Đại Nguyên Soái nhà Hán.
Còn trong
đời thường, nếu thời vận lỡ làng, mệnh số là một ngôi sao xấu, thì phải chấp nhận thất bại, ra đi một
cách hiên ngang, lánh đời(!) cho dẫu trong tim tan nát, đầy dẫy thương đau:
Không
than sinh bất phùng thời,
Vuốt
xuôi mái tóc, cả cười ta đi.
Con nhà Nho cũ, Nguyễn Bính,(1918-1966)
Tuy nhiên, chớ nên đem thành bại mà luận anh
hùng. Chẳng qua là do thời vận. Như câu đối đáp bất hủ của Ngô
Thì Nhậm 吳時壬 (1746–1803) với Đặng Trần Thường 鄧陳常(1759-1813):
-Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai?
Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp:
-Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải
thế[18].
Khi được thời thì xênh xang áo mão, xe ngựa rập rình, vinh thân phì gia, xem thường thị
phi, tự cao tự đại. Được thời, theo
thói đời,
kẻ tiểu nhân chắc phải vậy thôi.
Khi hết thời,
dù ở nơi chợ
búa rộn ràng,
cảnh nhà quạnh
quẽ, buồn thiu,[19]
mà ngẫm
câu thơ xưa:
Núi láng giềng, chim bầu bạn
Mây khách khứa, nguyệt anh tam.[20]
Thuật
hứng, bài 19, Nguyễn
Trãi
Sang câu 4, ngẫm nghĩ
về vận nước:
Vận khứ, 運去 là sự may mắn qua rồi, là đã mất một cơ hội thuận lợi ngàn vàng. Thế là thất bại. Đã hết thời rồi phải chăng? Khi
ấy, người anh hùng đành nuốt hận nhiều trong thất bại đắng cay. (ẩm hận đa 飮恨多) .
Tuy tác giả
không bộc bạch, nhưng vận khứ ở đây, ứng vào hoàn cảnh lịch sử thời Hậu
Trần.[21]
Hai câu thực cân đối, chính xác; người
hèn, lúc gặp thời, thành công như
bỡn; người anh hùng khi lỡ vận, chèo chống mỏi
mê, với bao cay đắng, hận lòng.
Hai câu luận là một hoài bão, là nỗi lòng hằng ấp ủ trong tim và
tâm trạng tác giả trước tiền đồ đất nước:
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
致 主 有 懷 扶 地 軸
洗 兵 無 路 挽 天 河
Trí chủ hữu hoài, 致主有懷 , trí chủ là
hết lòng đối với Chúa (vua). Hữu hoài 有懷 có tấm lòng ôm ấp một sự việc trọng đại . Phù
địa trục 扶地軸 chống đỡ, xoay
trục đất hay là phục quốc, quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi, đem lại nền thái
bình thịnh trị cho đất
nước, quê hương.
Đây chính là tấm lòng son, tấm lòng
tận trung báo
quốc của tác giả.
Sang câu 6. Tẩy binh 洗兵 rửa
giáp binh, lấy ý hai câu thơ trong bài Tẩy binh mã
洗兵馬 của Đỗ Phủ 杜甫:
An
đắc tráng sĩ vãn Thiên Hà,
Tinh
tẩy
giáp binh trường bất dụng!
安 得 壯 士 挽 天 河,
淨 洗 甲 兵 長 不 用!
“Mong
có một người tráng sĩ
kéo dòng sông Ngân xuống,
Để tẩy rửa đồ giáp binh, (xếp xó), mãi mãi không sử
dụng nữa!”
Tức là ước mong đất nước thanh bình, dài
lâu.
Nhưng ở đây, muốn kéo sông Ngân, vãn thiên hà 挽天河
thì vô lộ, 無路, không
có đường đi, không có phương sách
nào cả, vận nước bế
tắc. Người tráng sĩ như đang ở trên bước đường cùng.
Rõ ràng, hai câu thơ hùng tráng, ngạo nghễ của một người anh hùng thất cơ lỡ
vận, đầy thương cảm, ngậm ngùi. Xưa nay, thói đời thường phê phán
những kẻ công thành danh toại, cao ngạo, khoa trương địa vị của mình. Người
tráng sĩ có chí, có tài nhưng thất cơ lỡ vận thường được thông cảm và trân trọng.
Bút pháp sử dụng hình ảnh cao rộng to tát, đậm chất trữ tình. Nghệ
thuật đối hoàn chỉnh, trọn vẹn thể hiện khí phách trác việt của một người anh
hùng tài cao, phận thấp, chí khí uất[22],
trên bước đường cùng.
Hai câu kết: Tuyệt mệnh nhưng không tuyệt vọng.
Quốc thù vị phục đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
國 讎 未 复 頭 先 白
幾 度 龍 泉 帶 月 磨
Câu [7]:
Đau đớn, nhìn lại những thất bại đầy cay đắng trong đời.
Đó là một chuỗi thất bại của công cuộc khởi nghĩa, từ trước tới thời điểm nầy; Điều đó không
phải do ta không nổ lực, không quyết tâm. Sự thất bại chẳng qua do thời vận
chưa đến. Trời Xanh chẳng chịu chiều người, cuộc đại sự đang
đến hồi mạt vận. Còn có nỗi buồn nào hơn! Đã già rồi, trong khi còn biết bao điều phải làm, còn đa
đoan lắm việc! Mạt vận cũng
là một thất bại của chính bản thân. Điều
nầy, có ai mong muốn vậy bao giờ? Cho nên, khi hạ
bút những vần thơ thống thiết nầy, chính là những lời tuyệt mệnh
của tác
giả.
Câu[8],
Kỷ độ Long Tuyền, đái
nguyệt ma.
Long
Tuyền[23] 龍 泉 là
tên của một thanh
bảo kiếm.
Bảo kiếm Long Tuyền nổi tiếng đến mức sau này qua lăng kính văn học mọi
thanh kiếm báo đều
được gọi là Long Tuyền và cụm từ "tay vung ba thước Long Tuyền kiếm"
đã trở thành một thành ngữ quen
thuộc.
Đái nguyệt ma 帶月磨 là
mang bảo
kiếm mài dưới ánh
trăng. Mài bảo kiếm Long Tuyền dưới trăng; kỷ độ 幾度 biết bao lần. Nung nấu ý chí đấu tranh, một hình ảnh rất thi vị, trữ tinh.
Qua ý thơ đó, sự
thất bại cuối cùng đã ngời lên ánh thép. Cho hay, sự tuyệt mệnh chưa thể kết thúc mà nó còn hừng hực ngọn lửa
chờ thời, cho một ngày vinh quang của dân tộc. Ngày mà “một trận mưa
nhuần rửa núi sông” [24] hay là một trận đánh lịch sử, quét sạch bóng quân thù, quê hương
không còn bóng giặc, đất nước thanh bình. Ý thơ bàng bạc nỗi buồn thất bại nhưng vẫn cất cao
niềm tin mạnh mẽ vào ngày mai xán lạn[25]
của non sông, niềm
tin vẫn sáng
ngời như chưa từng thất vọng.
Để kết thúc bài
bình thơ, tôi xin mượn lời của Lý Tử Tấn[26]
(1378-1457), tác giả ‘Chuyết am văn
tập”, đời Hậu Lê, đã bình
bài thơ của người anh
hùng Đặng Dung:
“Phi hào kiệt, chí sĩ bất
năng” 非 豪 傑 , 俧 士不 能.
Nếu ông
không phải là tráng sĩ, tài năng xuất chúng, thì không thể nào viết nổi kiệt tác nầy vậy.֎
NgânTriều
***
Chú thích:
[1]
Đã
hẳn rằng ai nhục, ai vinh?
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.[1]
Có những lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng
phong.
Chí những toan xẻ núi, lấp
sông,
Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ.
Chí Nam Nhi, Nguyễn Công Trứ.
[2]
Bài thơ còn được gọi là
Cảm hoài, 感懷,
một bài thơ nổi tiếng của Đặng Dung.
[3] Tận nhân lực, tri thiên mệnh: Dốc hết sức
người, mới biết mệnh trời.
[4] Ghi theo Ngữ
văn 10 (nâng cao), Nxb Giáo dục, 2007, tr. 157.
[5] Chép theo Cao Xuân Dục, Đại Nam dư địa chí
ước biên. Nxb Văn học, 2003, tr.
233.
[6]
Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến
sĩ Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ
Hàn tiếp tục tục biên năm 1745, Nguyễn Văn Thành dịch, NXB Văn hóa Thông tin
2002.
[7] Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 47 – 49.
[8]
Sách Ngữ
văn 10 (nâng cao), chú
thích: Thuận Hóa: tên gọi cũ vùng địa giới hành chính bao gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng ngày nay.
(Sách đã dẫn, tr. 157).
[9] Theo Đại
Nam nhất thống chí, sđd trên.
[10] Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 234.
[11]
Theo Minh
Sử của Trương Đĩnh Ngọc (người Trung Quốc) thì trận đánh
này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị (dẫn lại
theo Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 235).
[12] Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỉ
toàn thư, quyển 9, tờ 22-b). Khâm
Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tương tự và kèm theo lời
bình là: Trời buông tha Trương Phụ (Chính biên, quyển 12, tờ 39).
[13]
Sđd,
tr. 236
[14]
Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, tr. 197.
Nguyễn Văn Thành dịch, NXB Văn hóa Thông tin 2002.
[18]
Ngô Thì Nhậm (吳時壬); còn gọi
là Ngô Thời Nhiệm 吳時任(1746–1803), tự là Hy
Doãn (希尹), hiệu là Đạt
Hiên (達軒), là danh sĩ, nhà văn đời hậu Lê–Tây Sơn, người có
công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ngô Thì Nhậm
xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả
Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội.
Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau.
Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng
dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất
phong độ của kẻ sĩ, Nhậm thét bảo Thường:
-Ở đây cần
dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra
cúi thì đi nơi khác.
Đặng Trần Thường
hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo Nguyễn Phúc Ánh.
Sau khi nhà
Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt
đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì
cuộc phạt đánh đòn đó là Đặng Trần Thường.
Vốn có thù
riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm:
-Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết
ai?
Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp:
-Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời
phải thế.
Có thuyết nói
rằng, nguyên câu đối lại của Ngô Thì Nhậm là:
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, dù thời thế, thế nào cũng
thế.
hoặc là:
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế nào vẫn
thế.
Đặng Trần Thường
bắt ông phải sửa lại như câu nói "thế
đành theo thế" (hay thế thời theo thế hoặc là thế thì phải thế). Ngô Thì Nhậm
không nói lại. Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh ông.
Sau trận đòn về
nhà, Phan Huy Ích không bị đánh bằng thuốc độc nên còn sống. Còn Ngô Thì Nhậm bị
thuốc độc ngấm vào tạng phủ, biết mình không qua khỏi, trước khi qua đời ông có
làm bài thơ gửi tặng Đặng Trần Thường như sau:
Ai tai Đặng Trần Thường
Chân như yến xử đường
Vị Ương cung cố sự
Diệc nhĩ thị thu trường
Nghĩa là:
Thương thay Đặng
Trần Thường. Nay quyền thế lắm đấy, nhưng khác nào như chim yến làm tổ trong
cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn đến nơi. (Giống như Hàn
Tín giúp Hán Cao tổ, rồi bị Cao tổ giết ở cung Vị Ương). Kết cục của ngươi rồi cũng thế đó.
Tạm dịch:
Thương thay Đặng Trần Thường
Tổ yến nhà xử đường.
Vị Ương cung chuyện cũ
Tránh sao kiếp tai ương?
Quả nhiên sau
này bài thơ ứng nghiệm, Đặng Trần Thường bị vua Gia Long xử tử năm 1813.
[19] Người nghèo ở nơi chợ đông, không ai thăm hỏi.
Bần cư náo thị vô nhân vấn.
[20] Không có ai là láng giềng; không có ai là bầu bạn; không có khách khứa. Chỉ có núi, có chim, có mây, có trăng. Quan nhất thời, dân vạn đại:
Làm quan có một thời thôi.
Làm dân là vạn vạn đời cùng dân.
[21]
Bấy giờ
có rất nhiều nhân tài, nhiều nghĩa sĩ ra giúp vua Hưng Khánh Giãn Định Đế
(1407-1409), tiếp theo là vua Trùng Quang Trần Quí Khoách (1403-1413) như Nguyễn Biểu; Nguyễn
Súy; Cha con Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị; Cha con Đặng Tất, Đặng Dung...
Chiến công nổi bật nhất là Trận Bô Cô (1408) chém được tướng giặc Minh là
Lữ Nghị giữa trận tiền và đuổi Mộc Thạnh về tới thành Cổ Lộng. Đồng thởi ở
Thuận Hóa, tháng 9 năm 1413,nửa đêm, Nguyễn Súy và Đặng Dung xông vào
đánh trại của Trương Phụ. Quân Minh tan vỡ chạy trốn cả, Đặng Dung đã vào được
thuyền của Trương Phụ định bắt sống hắn nhưng vì không biết mặt nên Trương Phụ
nhảy xuống một chiếc thuyền con mà thoát được...
Nhà Hậu Trần nổi lên
toan đường khôi phục nhưng vận nước đã đến hồi mạt vận, có nhiều nhân tài nhưng
lòng người ly tán, quân ít, lương thiếu, nhà vua thiển cận, hẹp hòi nên chỉ kéo
dài được 7 năm thì sụp đổ. Nước ta lại rơi vào ách đô hộ tàn bạo cả giặc Minh.
[22] Tài cao phận thấp chí khí uất,
Giang hồ mê chơi, quên quê hương.
Thăm mả cũ bên đường, Tản Đà.
[23]
Tương truyền bảo
kiếm Long Tuyền do Âu Dã Tử,
một thợ rèn kiếm nổi tiếng Trung Hoa thời cổ làm ra. Nhân chuyến ngao du, ông thấy dòng suối Long Tuyền trên núi Tần Khê (Chiết
Giang) có ánh ngời sắc kim khí, ông liền cho xẻ núi và tìm được
một mảnh "thiết anh" (sắt tốt). Ông đã dồn hết tinh lực luyện nên thanh bảo kiếm Long Tuyền, kiếm dài ba thước, vô
cùng sắc bén, chém
sắt như chém bùn , đặt tên là Long Tuyền, liền đem dâng cho Sở Vương.
[24] Chừng nào Thánh Đế ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần
rửa núi sông.
Ngóng Gió Đông, Nguyễn Đình Chiểu.
Một khi vua thấu
hiểu điều đó,
Trận phản công quyết liệt của quân ta như trận mưa thật to, trôi hết cả
bùn dơ, quét sạch bóng kẻ thù.
[25] Xán lạn: sáng láng, rực rỡ; sáng ngời.
[26]
Lý Tử Tấn là người ở làng Triều Đông (sau đổi là Triều Liệt), huyện
Thượng Phúc (nay thuộc xã Tân Minh huyện Thường Tín, Hà Nội).
Năm 1400,
ông thi đỗ Thái học sinh lúc 32 tuổi, cùng khoa với Nguyễn Trãi, thời Hồ Quý Ly,
nhưng không làm quan cho nhà Hồ.
Vào khoảng cuối cuộc kháng
chiến chống Minh của nghĩa quân Lam Sơn, ông đến yết kiến nơi hành tại,
được Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi), khen là người học nhiều, sai giữ chức
Văn cáo tức là làm nhiệm vụ thảo công văn, giấy tờ, thư tín.[1]
Sau đó, ông tiếp tục làm
quan dưới triều nhà Lê, trải qua ba đời vua: Lê Thái Tổ (1428- 1433), Lê Thái Tông (1434-1442), Lê Nhân Tông (1443-1459) [1],
trải các chức: Thông phụng đại phu, Hành khiển Bắc đạo, Thừa chỉ viện Hàn lâm,
vào hầu giảng ở tòa Kinh Diên.
Theo Từ điển Văn học (bộ
mới), dưới triều Lê Thái Tổ, ông có đi sứ Chiêm Thành.
Khi Nguyễn Trãi lui về Côn Sơn ông
đã thay Nguyễn Trãi thảo nhiều chiếu lệnh, chế cáo và thư từ [2].
Ông mất năm 1457[3],
thọ 79 tuổi.
Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]
Lý Tử Tấn có Chuyết
Am thi tập (chữ Hán),
nhưng hiện chỉ còn 5 bài phú chép trong Quần hiền phú tập do
Hoàng Tụy Phu (1414-?) sưu tập, và 73 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn (1726-1784).
Trong 5 bài phú còn lại, nổi
tiếng nhất là bài Phú Xương Giang, ca ngợi chiến thắng Xương Giang ngày 3 tháng
11 năm 1427 của nghĩa quân Lam Sơn: tiêu diệt 7 vạn quân Minh và bắt sống các
tướng nhà Minh là Thôi Tụ, Hoàng Phúc...
Ngoài ra, ông cũng có làm lời thông luận cho bộ Dư địa chí của Nguyễn Trãi; hiệu chính
và phê điểm trong bộ Việt âm thi tập.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét