Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Một bài thơ chữ Hán duy nhất, Thuật hoài của Đặng Dung, thời Hậu Trần.

 

[Bài  2] Bài thơ

Thuaät hoaøi (Thuật hoài)

Quốc thù vị phục đầu tiên bạch

                                                             Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma. Tranh Google.

 Đặng Dung ( ? – 1414 )

                       Nhân đọc mấy câu thơ trong bài Chí nam nhi,[1] tôi bỗng nhớ đến Đặng Dung, người anh hùng mạt lộ và một bài thơ duy nhất Thuật hoài[2] của ông, thở than vận nước; Trời Xanh sao chẳng chiều người nhưng ý thơ ngời ngời ánh thép đấu tranh; tận nhân lực, tri thiên mệnh:[3]

       

Thuaät hoaøi (Thuật hoài)

Thế sự du du nại lão hà?

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

Quốc thù vị phục đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

*

Bản chữ Hán

   

          鄧        ( ? – 1414)

                  ?   

                  

                      

                       

                        

                  

                     

                  

Dịch nghĩa:

( 1 ) Việc đời day dứt (rối rắm) mà ta đã già thì biết làm thế nào?

( 2 ) (Phải chăng) Trời đất mênh mông, (như) hòa nhập trong tiếng hát say!

 ( 3 ) Gặp thời, kẻ mổ heo, người kiếm cá đều dễ thành công.

( 4 ) Lỡ vận, người anh hùng đành phải nuốt hận nhiều,

( 5 ) Giúp Chúa những mong xoay (thay đổi) trục đất

( 6 ) (Tiếc rằng) Chuyện rửa giáp binh , không còn cách nào, để kéo sông Trời.

( 7 ) Thù nước  trả chưa xong , đầu đã bạc,

( 8 ) Bao phen rồi, ta mài kiếm Long Tuyền dưới ánh trăng!

            Các bản dịch thơ:

Bản dịch của Phan Kế Bính

Việc đời bối rối tuổi già vay ?

Trời đất vô cùng một cuộc say.

Bần tiện gặp thời, lên cũng dễ;

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.

Vai khiêng trái đất mong phò chúa,

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày !

                                               Phan Kế Bính dịch,

              (Đại Nam nhất thống chí (Đông Dương tạp chí, số 116)

Bản dịch của Tản Đà:

Việc đời man mác, tuổi già thôi!

Đất rộng, trời cao chén ngậm ngùi.

Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,

Tan tành sự thế luống cay ai!

Phò vua bụng những mong xoay đất,

Gột giáp sông kia khó vạch trời.

Đầu bạc giang san thù chửa trả,

Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi!

Tản Đà dịch

***

 Sơ lược tiểu sử Đặng Dung:

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đặng Dung  鄧容, (? - 1414[4]),

là  nhà thơ  và danh tướng nhà Hậu Trần  trong lịch sử Việt Nam.

 

                 

                 

Quốc thù vị phục đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

[1] Thân thế và sự nghiệp

Đặng Dung là người xã Tả Hạ, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An[5] (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con trai cả của Quốc công Đặng Tất.

          Theo "Đặng Tộc Đại Tông Phả[6], ông tổ 4 đời của Đặng Tất là Đặng Bá Kiển vốn cư ngụ ở vùng kinh kỳ Thăng Long, sau đó di dời vào Nghệ An châu. Con trưởng của Bá Kiển là Đặng Bá Tĩnh đỗ thám hoa đời nhà Trần. Bá Tĩnh chính là ông nội của Đặng Tất. Con trưởng của Bá Tĩnh là Đặng Đình Dực chính là cha Đặng Tất[7].

Dưới triều nhà Hồ, ông giúp cha là Đặng Tất (? - 1409) cai quản đất Thuận Hóa[8].

Sau khi quân Minh tiến chiếm nước Việt (khi ấy, nước ta có quốc hiệu là Đại Ngu), nhà Hồ sụp đổ, Đặng Dung cùng cha tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi (tức Giản Định Đế).

          Năm 1409, sau trận đại chiến ở Bô Cô (xã Hiếu Cổ, huyện Ý Yên, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay); “vì nghe lời gièm pha của bọn hoạn quan là Nguyễn Quỹ, nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân[9]. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi (Giản Định Đế), cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rước Trần Quý Khoách từ Thanh Hóa về đất Chi La (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), tôn lên ngôi vua (tức Trùng Quang Đế), và ông được giữ chức Đồng bình chương sự.

Về sau, do nhu cầu cần phải hợp nhất hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoách do Nguyễn Súy cầm đầu đã tổ chức đánh úp vào Ngự Thiên, đem Trần Ngỗi ( Giản Định Đế) về Chi La tôn làm Thượng Hoàng.

Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung ông đã “vượt lên trên tất cả, trước sau vẫn giữ vững phẩm chất đường hoàng của một vị tướng”[10]. Từ đó ông trải qua rất nhiều trận giao chiến, nổi bật hơn cả là trận đánh vào tháng 9 năm Quý Tị (1413) ở khu vực Thái Gia[11].

[2] Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép:

Đang khi đôi bên quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của (Trương) Phụ. (Đặng) Dung đã nhảy lên thuyền của (Trương) Phụ và định bắt sống (Trương) Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế, (Trương) Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà (Nguyễn) Súy không biết hợp lực để cùng đánh. (Trương) Phụ biết quân của (Đặng) Dung ít nên lập tức quay lại đánh. (Đặng) Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết[12].

[3] Nguyễn Khắc Thuần kể tiếp:

Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng Dung cùng Trần Quý Khoách, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Nửa đường, Trần Quý Khoách nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cùng các tướng cũng lập tức nhảy xuống biển tuẩn tiết.[13]

[4] Trần Trọng Kim cũng cho biết tương tự:

Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể chống với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng được bao lâu Trần Quý Khoách, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy đều bị bắt, và phải giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Quý Khoách nhảy xuống bể tự tử, bọn ông Đặng Dung cũng tử tiết cả. Ông Đặng Dung có làm bài thơ Thuật hoài, mà ngày nay còn có nhiều người vẫn truyền tụng.

Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh...[14]

[5] Theo Minh Thực lục, thì:

Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ mang quân đến Tra Hoàng, huyện Chính Hoà, châu Chính Bình (Quảng Bình); tướng giặc là Hồ Đồng hàng. Nghe tin bọn Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung, Long Hổ Tướng quân nguỵ Lê Thiềm hơn 700 tên chạy đến Côn Bồ, Tiêm Man ; bọn Phụ tiến binh ngay đến sông La Mông. Phải theo đường núi vin cành lá mà leo lên nên đành bỏ ngựa, tướng sĩ tiếp tục đi theo. Đến sách Côn Bồ, bọn Cảnh Dị đã bỏ trốn ; lại truy kích đến Tra Bồ Nại, bọn giặc và dân địa phương đều trốn, không biết ở chốn nào, nên làm cuộc lục soát lớn. Vào canh tư, đi trên 20 dặm, nghe tiếng trống điểm canh, Phụ sai Đô Chỉ huy Phương Chính mang quân lẳng lặng đi, đến lúc trời sáng đến phía bắc sông, tại Tra Bồ Cán. Giặc lập trại tại bờ phía nam, quan quân vượt sông vây đánh. Giặc chống không nổi, tên bắn liên tiếp trúng, Cảnh Dị bị thương tại sườn, bắt được. Đặng Dung trốn, Phương Chính mang quân truy lùng, bắt được Đặng Dung cùng với em là Đặng Nhuệ. Bắt hết bọn giặc Lê Thiềm, tịch thu ấn nguỵ của Cảnh Dị. Cảnh Dị bị thương nặng, bị róc thịt lấy thủ cấp, áp giải cùng anh em Đặng Dung đến kinh đô; tất cả đều bị xử chém để làm răn. (Minh Thực Lục quyển 13, tr. 1727-1728; Thái Tông quyển 147, tr. 2a-3b).

[6] Hậu duệ của Đặng Dung:

-Đặng Nghi (lập nghiệp tại Chúc Sơn, Chương Đức)

-Đặng Địch Quả (Giám sinh Quốc tử giám, về sống tại lại Tả Thiên lộc)

-Đặng Di (lập nghiệp tại Sơn Vi, Mao Phổ thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay)

-Đặng Công Thiếp (đỗ Hoàng giáp, di cư đến Sơn Đông, huyện Lập Thạch)

HẬU DUỆ NỔI TIẾNG:

-Tiến sĩ, Thượng thư Đặng Minh Khiêm (1457-?)

-Thám hoa Đặng Thì Thố

-Hoàng giáp Đặng Chiêm

-Thái Úy, Nghĩa Quốc Công Đặng Huấn (?-1583)

-Tiến sĩ, Quốc lão Đặng Đình Tướng (1649-1735)[15]

-Đặng Lương Mô (có hơn 300 công trình khoa học công công bố ở Mỹ, Nhật...hiện là Trưởng ban khuyến học họ Đặng)

-Đặng Đình Áng

Cảm hoài, bài thơ duy nhất còn lại của Đặng Dung.

*

Tài liệu tham khảo:

Đại Việt Sử ký Toàn thư

Danh nhân Bình Trị Thiên, Nhiều tác giả, NXB Thuận Hoá, 1986

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục

Đặng Tộc Đại Tông Phả, Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến sĩ Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn tiếp tục tục biên năm 1745, Nguyễn Văn Thành giới thiệu, NXB Văn hóa Thông tin 2002

Họ Đặng “Nam bang vượng tộc” thời Lý đến thời Lê, Nguyễn Văn Thành, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam

Danh nhân lịch sử Đặng Tất - Đặng Dung, Đặng Huy Phúc, NXB trẻ, 2005.

***
[7] Lời bình, Ngân Triều.

Hai câu đề: Sự bất lực trước hoàn cảnh và nỗi buồn miên man.

 Thế sự du du nại lão hà?

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

                   ?

                  

Bài thơ tự sự, mở đầu bằng những băn khoăn, tiếc nuối thời gian qua nhanh thoảng chút u buồn, bối rối. Trước một không gian cao rộng, với biết bao công việc cần phải thực hiện ngay, kẻ tráng sĩ cứu nước nên ứng xử như thế nào cho hợp lẽ.(?)

          [Câu 1 ]

“Thế sự du du”[16] 世事悠悠   là việc đời buồn thảm, lê thê, ngổn ngang, bộn bề phía trước. Điều đó không chỉ cảm nhận qua hiện thực thời thế, qua những sự kiện xác thực của lịch sử thương đau  mà nó còn được cảm nhận bởi tấm lòng. Như thế thì việc đời buồn miên man không dứt, chạnh lòng  vời vợi, xót xa cay đắng, day dứt không yên, thể hiện một tâm trạng rối rắm bời bời của một tráng sĩ, một mãnh tướng đang băn khoăn trên bước đưng cùng.

          Nại lão hà”[17], 奈老何già rồi biết làm thế nào? Nghe như một lời thở than đầy bất lực cho kiếp nhân sinh. Đã đành đời người chóng qua, dài trong gang tấc, nhưng đã già thì việc dấn thân, mưu cầu công việc đại sự thì rất hạn chế, nếu không nói là phải bất lực, bó tay. Ông Xanh ơi, sao chẳng chiều người! Chẳng lẽ:  

Soi gương mới sớm chiều thôi mà  “buồn ơi!”  mái tóc mới óng mượt như tơ như tuổi thanh xuân phơi phới, mới sáng chiều thôi, bỗng biến thành phau phau như tuyết:

Quân bất kiến,

Cao đường minh kính bi bạch phát,

Triêu như thanh ti, mộ thành tuyết.

Tương tiến tửu – Lý Bạch.

      

                  

                  

               -            

Biết chăng ai,

Gương tỏ nhà cao,

Buồn mái tóc

Mới sáng óng như tơ,

Mà tối đổi bạc phơ”.

Lời than thở, tiếc thương, bất lực cho kiếp sống phù du, sớm nở tối tàn - phân vân, bối rối cho đại sự sắp tàn, việc lớn chưa tới đâu như đời chưa “trang điểm” mà tuổi già   đã đến, để thương cảm cho bản thân tàn tạ, suy yếu, gần đất xa trời - nghe bi thảm, buồn tênh.

           [Câu 2]

          Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

                  

          Vô cùng thiên địa,            :  

khoảng trời đất mênh mông bao la;  nhập hàm ca         : hòa nhập, đồng cảm qua tiếng ca.

Cả câu có nghĩa là (Phải chăng) Trời đất mênh mông, (như cũng) cảm thông qua tiếng hát buồn!

Hai câu đề, mở ra một không gian đất trời vô cùng, lồng lộng, một hình ảnh cao rộng, mênh mông.

Bốn câu thực luận: Thời vận, hoài bảo và tiền đồ

 Thời lai đồ điếu thành công dị,

 Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

 Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

 Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

                  

                  

                  

                  

          Bốn câu thơ tiếp theo là bốn câu chắc nịch, mở rộng ý chính của chủ đề, thể hiện nỗi lòng.

Hai câu thực là vấn đề thời thế và vận nước .

Câu [3], tác giả đề cập chữ thời,   với ít nhiềui khinh bạc, bi thươngThời lai  時來 tức là thời cơ đến, được thời hay cơ hội đến đúng vào một thời điểm nhất định, là thuận lợi, may mắn, thành công.

Khi gặp thời thì  kẻ mổ heo và người câu cá, đồ  điếu 屠釣, những kẻ bần tiện, nghèo hèn đều thành công dễ dàng.

Đồ điếu thành công dị,  

屠釣成功易,

Sự tích Phàn Khoái, lúc hàn vi, làm nghề đồ tể, nghề hàng thịt, về sau trở thành một dũng tướng của Hán Cao Tổ. Hàn Tín, lúc nghèo hèn, thường đi câu cá để đổi gạo ăn, về sau trở thành Đại Nguyên Soái nhà Hán.

Còn trong đời thường, nếu thời vận lỡ làng, mệnh số là một ngôi sao xấu, thì phải chấp nhận thất bại, ra đi một cách hiên ngang, lánh đời(!) cho dẫu trong tim tan nát, đầy dẫy thương đau:

Không than sinh bất phùng thời,

Vuốt  xuôi mái tóc, cả cười ta đi.

                Con nhà Nho cũ, Nguyễn Bính,(1918-1966)

 Tuy nhiên, chớ nên đem thành bại mà luận anh hùng. Chẳng qua là do thời vận.  Như câu đối đáp bất hủ của Ngô Thì Nhậm   (1746–1803) với Đặng Trần Thường 鄧陳常(1759-1813):

-Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai?

Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp:

-Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế[18].

Khi được thời thì xênh xang áo mão, xe ngựa rập rình, vinh thân phì gia, xem thường  thị phi, tự cao tự đại. Được thời, theo thói đời, kẻ tiểu nhân chắc phải vậy thôi.

Khi hết thời, dù ở nơi chợ búa rộn ràng, cảnh nhà quạnh quẽ, buồn thiu,[19] ngẫm câu thơ xưa:

Núi láng giềng, chim bầu bạn 

Mây khách khứa, nguyệt anh tam.[20]

Thuật hứng, bài 19, Nguyễn Trãi

Sang câu 4, ngẫm nghĩ về  vận nước:

Vận khứ, 運去  sự may mắn qua rồi, là đã mất một cơ hội thuận lợi ngàn vàng. Thế là thất bại. Đã hết thời rồi phải chăng? Khi ấy, người anh hùng  đành nuốt hận nhiều trong thất bại đắng cay. (ẩm hận đa  飮恨多) .

Tuy tác giả không bộc bạch, nhưng vận khứ  ở đây, ứng vào hoàn cảnh lịch sử thời Hậu Trần.[21]

Hai câu thực  cân đối, chính xác; người hèn, lúc gặp thời, thành công như bỡn; người anh hùng khi lỡ vận, chèo chống mỏi mê, với bao cay đắng, hận lòng.

Hai câu luận là một hoài bão, là nỗi lòng hằng ấp ủ trong tim và tâm trạng tác giả trước tiền đồ đất nước:

Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà

                  

                  

Trí chủ hữu hoài致主有懷 ,  trí chủ là hết lòng đối với Chúa (vua). Hữu hoài 有懷   có tấm lòng ôm ấp một sự việc trọng đại . Phù địa trục 扶地軸  chống đỡ, xoay trục đất hay là phục quốc, quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi, đem lại nền thái bình thịnh trị cho đất nước, quê hương.

 Đây chính là tấm lòng son, tấm lòng tận trung báo quốc của tác giả.

Sang câu 6. Ty binh 洗兵  rửa giáp binh, lấy ý hai câu thơ trong bài Ty binh mã 洗兵馬 của Đỗ Phủ 杜甫:

An đắc tráng sĩ vãn Thiên Hà,

Tinh ty giáp binh trường bất dụng!

      河, 

      用!

Mong có một người tráng sĩ  kéo dòng sông Ngân xuống,
         
Để tẩy rửa đồ giáp binh, (xếp xó), mãi mãi không sử dụng nữa!”

Tức là ước mong đất nước thanh bình, dài lâu.

Nhưng ở đây, muốn kéo sông Ngân, vãn thiên hà  挽天河 thì vô lộ無路, không có đường đi, không phương sách nào cả, vận nước bế tắc. Người tráng sĩ như đang ở trên bước đường cùng.

Rõ ràng, hai câu thơ hùng tráng, ngạo nghễ của một người anh hùng thất cơ lỡ vận,  đầy thương cảm, ngậm ngùi.  Xưa nay, thói đời thường phê phán những kẻ công thành danh toại, cao ngạo, khoa trương địa vị của mình.  Người tráng sĩ có chí, có tài nhưng thất cơ lỡ vận thường được thông cảm và trân trọng.

Bút pháp sử dụng hình ảnh cao rộng to tát, đậm chất trữ tình.  Nghệ thuật đối hoàn chỉnh, trọn vẹn thể hiện khí phách trác việt của một người anh hùng  tài cao, phận thấp, chí khí uất[22], trên bước đường cùng.

Hai câu kết: Tuyệt mệnh nhưng không tuyệt vọng.

Quốc thù vị phục đầu tiên bạch,

Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

                 

                 

Câu [7]:

 Đau đớn, nhìn lại những thất bại đầy cay đắng trong đời. Đó là một chuỗi thất bại của công cuộc khởi nghĩa, từ trước tới thời điểm nầy; Điều đó không phải do ta không nổ lực, không quyết tâm. Sự thất bại chẳng qua do thời vận chưa đến. Trời Xanh chẳng chịu chiều người, cuộc đại sự đang đến hồi mạt vận. Còn có nỗi buồn nào hơn! Đã già rồi, trong khi còn biết bao điều phải làm, còn đa đoan lắm vic! Mạt vận cũng là một thất bại của chính bản thân. Điều nầy, có ai mong muốn vậy bao giờ? Cho nên, khi hạ bút  những vần thơ thống thiết nầy, chính là  những lời tuyệt mệnh của tác giả.

 Câu[8],

Kỷ độ Long Tuyền, đái nguyệt ma.

Long Tuyền[23]   là tên của một thanh bảo kiếm. Bảo kiếm Long Tuyền nổi tiếng đến mức sau này qua lăng kính văn học mọi thanh kiếm báo đều được gọi là Long Tuyền và cụm từ "tay vung ba thước Long Tuyền kiếm" đã trở thành một thành ngữ quen thuộc.

Đái nguyệt ma  帶月磨 mang bảo kiếm mài dưới ánh trăng. Mài bảo kiếm Long Tuyền dưới trăng; kỷ độ 幾度  biết bao lần. Nung nấu ý chí đấu tranh, một hình ảnh rất thi vị, trữ tinh.

Qua ý thơ đó, sự thất bại cuối cùng đã ngời lên ánh thép. Cho hay, sự tuyệt mệnh chưa thể kết thúc mà nó còn hừng hực ngọn lửa chờ thời, cho một ngày vinh quang của dân tộc. Ngày màmột trận mưa nhuần rửa núi sông[24] hay là một trận đánh lịch sử, quét sạch bóng quân thù, quê hương không còn bóng giặc, đất nước thanh bình.  Ý thơ bàng bạc nỗi buồn thất bại nhưng vẫn cất cao niềm tin mạnh mẽ vào ngày mai xán lạn[25] của non sông, niềm tin vẫn sáng ngời như chưa từng thất vọng.

Để kết thúc bài bình thơ, tôi xin mượn lời của Lý Tử Tấn[26] (1378-1457), tác giả ‘Chuyết am văn tập”, đời Hậu Lê, đã bình bài thơ của người anh hùng Đặng Dung:

“Phi hào kiệt, chí sĩ bất năng”      ,  士不 能. 

Nếu ông không phải là tráng sĩ, tài năng xuất chúng, thì không thể nào viết nổi kiệt tác nầy vậy.֎

                                                          NgânTriều


***
Chú thích:

[1] Đã hẳn rằng ai nhục, ai vinh?

Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.[1]

Có những lúc mưa dồn sóng vỗ,

Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.

Chí những toan xẻ núi, lấp sông,

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ.

Chí Nam Nhi, Nguyễn Công Trứ.

[2] Bài thơ còn được gọi là Cảm hoài,  感懷,  một bài thơ nổi tiếng của Đặng Dung. 

[3] Tận nhân lực, tri thiên mệnh: Dốc hết sức người, mới biết mệnh trời.

[4]  Ghi theo Ngữ văn 10 (nâng cao), Nxb Giáo dục, 2007, tr. 157.

[5]  Chép theo Cao Xuân DụcĐại Nam dư địa chí ước biên. Nxb Văn học, 2003, tr. 233.

[6] Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến sĩ Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn tiếp tục tục biên năm 1745, Nguyễn Văn Thành dịch, NXB Văn hóa Thông tin 2002.

[7] Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 47 – 49.

[8] Sách Ngữ văn 10 (nâng cao), chú thích: Thuận Hóa: tên gọi cũ vùng địa giới hành chính bao gồm Quảng BìnhQuảng TrịThừa Thiên - HuếĐà Nẵng ngày nay. (Sách đã dẫn, tr. 157).

[9] Theo Đại Nam nhất thống chí, sđd trên.

[10]  Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 234.

[11] Theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc (người Trung Quốc) thì trận đánh này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu PhongQuảng Trị (dẫn lại theo Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 235).

[12]  Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỉ toàn thư, quyển 9, tờ 22-b). Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tương tự và kèm theo lời bình là: Trời buông tha Trương Phụ (Chính biên, quyển 12, tờ 39).

[13]  Sđd, tr. 236

[14] Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, tr. 197.

 [15] Thông tin của 5 vị trên đây căn cứ theo Đặng Tộc Đại Tông Phả do Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến sĩ Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn tiếp tục tục biên năm 1745;

 Nguyễn Văn Thành dịch, NXB Văn hóa Thông tin 2002.

 [16] Du du: (Tính) Lo lắng, phiền muộn. Đặng Trần Côn : “Tống quân xứ hề tâm du du”  (Chinh phụ ngâm ) Tại chỗ đưa tiễn chàng, lòng thiếp buồn rầu, phiền muộn. Thế sự du du: Việc đời buồn bực, buồn bã, rối rắm, day dứt, buồn phiền…

[17] nại hà:Thế nào, ra sao, làm sao được; nại lão hà: già rồi, biết làm thế nào?

[18]  Ngô Thì Nhậm (); còn gọi là Ngô Thời Nhiệm 吳時(17461803), tự là Hy Doãn (希尹), hiệu là Đạt Hiên (達軒), là danh sĩ, nhà văn đời hậu LêTây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ngô Thì Nhậm xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội.

Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau.

Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm thét bảo Thường:

-Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác.

Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo Nguyễn Phúc Ánh.

Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó là Đặng Trần Thường.

Vốn có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm:

-Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai?

Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp:

-Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.

Có thuyết nói rằng, nguyên câu đối lại của Ngô Thì Nhậm là:

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, dù thời thế, thế nào cũng thế.

hoặc là:

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế nào vẫn thế.

Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu nói "thế đành theo thế" (hay thế thời theo thế hoặc là thế thì phải thế). Ngô Thì Nhậm không nói lại. Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh ông.

Sau trận đòn về nhà, Phan Huy Ích không bị đánh bằng thuốc độc nên còn sống. Còn Ngô Thì Nhậm bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ, biết mình không qua khỏi, trước khi qua đời ông có làm bài thơ gửi tặng Đặng Trần Thường như sau:

Ai tai Đặng Trần Thường

Chân như yến xử đường

Vị Ương cung cố sự

Diệc nhĩ thị thu trường

Nghĩa là:

Thương thay Đặng Trần Thường. Nay quyền thế lắm đấy, nhưng khác nào như chim yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn đến nơi. (Giống như Hàn Tín giúp Hán Cao tổ, rồi bị Cao tổ giết ở cung Vị Ương). Kết cục của ngươi rồi cũng thế đó.

Tạm dịch:

Thương thay Đặng Trần Thường

Tổ yến nhà xử đường.

Vị Ương cung chuyện cũ

Tránh sao kiếp tai ương?

Quả nhiên sau này bài thơ ứng nghiệm, Đặng Trần Thường bị vua Gia Long xử tử năm 1813.

[19] Người nghèo ở nơi chợ đông, không ai thăm hỏi. Bần cư náo thị vô nhân vấn.

[20] Không có ai là láng giềng; không có ai là bầu bạn; không có khách khứa. Chỉ có núi, có chim, có mây, có trăng. Quan nhất thời, dân vạn đại:         

Làm quan có một thời thôi.

Làm dân là vạn vạn đời cùng dân.

[21] Bấy giờ có rất nhiều nhân tài, nhiều nghĩa sĩ ra giúp vua Hưng Khánh Giãn Định Đế (1407-1409), tiếp theo là vua Trùng Quang Trần Quí Khoách (1403-1413) như Nguyễn Biểu; Nguyễn Súy; Cha con Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị; Cha con Đặng Tất, Đặng Dung... Chiến công nổi bật nhất là Trận Bô Cô (1408)  chém được tướng giặc Minh là Lữ Nghị giữa trận tiền và đuổi Mộc Thạnh về tới thành Cổ Lộng. Đồng thởi ở  Thuận Hóa, tháng 9 năm 1413,nửa đêm, Nguyễn Súy và Đặng Dung  xông vào đánh trại của Trương Phụ. Quân Minh tan vỡ chạy trốn cả, Đặng Dung đã vào được thuyền của Trương Phụ định bắt sống hắn nhưng vì không biết mặt nên Trương Phụ nhảy xuống một chiếc thuyền con mà thoát được...

Nhà Hậu Trần nổi lên toan đường khôi phục nhưng vận nước đã đến hồi mạt vận, có nhiều nhân tài nhưng lòng người ly tán, quân ít, lương thiếu, nhà vua thiển cận, hẹp hòi nên chỉ kéo dài được 7 năm thì sụp đổ. Nước ta lại rơi vào ách đô hộ tàn bạo cả giặc Minh.

[22] Tài cao phận thấp chí khí uất,

Giang hồ mê chơi, quên quê hương.

                                                  Thăm mả cũ bên đường, Tản Đà.

[23]  Tương truyền bảo kiếm Long Tuyền do Âu Dã Tử, một thợ rèn kiếm nổi tiếng Trung Hoa thời cổ làm ra. Nhân chuyến ngao du, ông thấy dòng suối Long Tuyền trên núi Tần Khê (Chiết Giang) có ánh ngời sắc kim khíông liền cho xẻ núi và tìm được một mảnh "thiết anh" (sắt tốt).  Ông đã dồn hết tinh lực luyện nên thanh bảo kiếm Long Tuyền, kiếm dài ba thước, vô cùng sắc bén, chém sắt như chém bùn , đặt tên là Long Tuyền, liền đem dâng cho Sở Vương.

[24] Chừng nào Thánh Đế ân soi thấu,

Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
               Ngóng Gió Đông, Nguyễn Đình Chiểu.

Một khi vua thấu hiểu điều đó,

Trận phản công quyết liệt của quân ta như trận mưa thật to, trôi hết cả bùn dơ, quét sạch bóng kẻ thù.

[25] Xán lạn: sáng láng, rực rỡ; sáng ngời.

[26] Lý Tử Tấn là người ở làng Triều Đông (sau đổi là Triều Liệt), huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tân Minh huyện Thường TínHà Nội). Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh lúc 32 tuổi, cùng khoa với Nguyễn Trãi, thời Hồ Quý Ly, nhưng không làm quan cho nhà Hồ.

Vào khoảng cuối cuộc kháng chiến chống Minh của nghĩa quân Lam Sơn, ông đến yết kiến nơi hành tại, được Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi), khen là người học nhiều, sai giữ chức Văn cáo tức là làm nhiệm vụ thảo công văn, giấy tờ, thư tín.[1]

Sau đó, ông tiếp tục làm quan dưới triều nhà Lê, trải qua ba đời vua: Lê Thái Tổ (14281433), Lê Thái Tông (1434-1442), Lê Nhân Tông (1443-1459[1], trải các chức: Thông phụng đại phu, Hành khiển Bắc đạo, Thừa chỉ viện Hàn lâm, vào hầu giảng ở tòa Kinh Diên.

Theo Từ điển Văn học (bộ mới), dưới triều Lê Thái Tổ, ông có đi sứ Chiêm Thành. Khi Nguyễn Trãi lui về Côn Sơn ông đã thay Nguyễn Trãi thảo nhiều chiếu lệnh, chế cáo và thư từ [2].

Ông mất năm 1457[3], thọ 79 tuổi.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tử Tấn có Chuyết Am thi tập (chữ Hán), nhưng hiện chỉ còn 5 bài phú chép trong Quần hiền phú tập do Hoàng Tụy Phu (1414-?) sưu tập, và 73 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn (1726-1784).

Trong 5 bài phú còn lại, nổi tiếng nhất là bài Phú Xương Giang, ca ngợi chiến thắng Xương Giang ngày 3 tháng 11 năm 1427 của nghĩa quân Lam Sơn: tiêu diệt 7 vạn quân Minh và bắt sống các tướng nhà Minh là Thôi TụHoàng Phúc... Ngoài ra, ông cũng có làm lời thông luận cho bộ Dư địa chí của Nguyễn Trãi; hiệu chính và phê điểm trong bộ Việt âm thi tập.

 ***

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét