Hiển thị các bài đăng có nhãn phách lối. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phách lối. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Đôi lời nhân chuyện báo chí TQ gọi Việt Nam 

là “đứa con hoang”

Người Việt lâu nay đã biết quá rõ và thế giới cũng đang nhận ra tật xấu này của TQ. Nhưng riêng việc gọi họ VN là “đứa con đi hoang” cho thấy căn bệnh đã quá nặng 
22-06-2014
Nhân chuyến đi Việt Nam của Dương Khiết Trì ngày 18/6, báo chí TQ đã lập tức xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn nhằm đổi trắng thay đen và bôi nhọ VN.  Đây không phải lần đầu mà là một món nghề gia truyền của TQ vì họ nghĩ mình là nước lớn đông dân thì cứ to mồm nói càn thì có thể biến không thành có, biến sai thành đúng…
Người Việt lâu nay đã biết quá rõ và thế giới cũng đang nhận ra tật xấu này của TQ. Nhưng riêng việc gọi họ VN là “đứa con đi hoang” cho thấy căn bệnh đã quá nặng. Và điều đáng nói hơn là thái độ láo xược ngông cuồng của tư tưởng Đại Hán đã một lần nữa xúc phạm tình cảm của 90 triệu nhân dân VN và bản thân nhân dân TQ
Nói vậy là vì, bất cứ ai nghiên cứu lịch sử cổ đại TQ đều biết trên đất Trung Quốc ngày nay đã có hàng trăm tộc người Việt (sử TQ chép là “Bách Việt”) cư trú trên khắp miền đất phía Nam sông Dương Tử, chính xác là phía Bắc giáp sông Dương Tử, phía Nam đến miền Bắc VN ngày nay, phía Tây giáp Tây Tạng, phía Đông Giáp biển Thái Bình Dương.  Cách nay khoảng 5.000 năm trong quá trình hình thành và phát triển quốc gia, người Hán đã tràn xuống phía nam xâm lấn đất đai của người Bách Việt. Tuy không đầy đủ nhưng sử sách và truyền thuyết của cả TQ và VN đều cho thấy thực tế lịch sử này, trong đó nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn có thể được coi là một ví dụ khắc họa quá trình đấu tranh sinh tồn của các vương quốc Bách Việt trước sự bành trướng của Hán tộc. 
Lịch sử cũng cho thấy sau nhiều thời kỳ bị xâm lấn, các vương quốc Bách Việt lần lượt bị chinh phục rồi bị đồng hóa với các mức độ và tốc độ khác nhau bởi Hán tộc. Đến giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên thì vương quốc Văn Lang (Lạc Việt) một phần bị thôn tính, một phần bị đẩy xuống phía nam và trụ lại với tên gọi Âu Việt của An Dương Vương, sau đó là Nam Việt của Triệu Đà (*) trước khi bị các triều đại Hán tộc chinh phục hoàn toàn và thống trị trong thời gian dài được sử sách gọi là “ngàn năm Bắc thuộc”. 
Vì nhiều lý do khác nhau, trong đó lý do chính là ý đồ xuyên tạc và tráo đổi sự thật lịch sử của các triều đại TQ, phần tiền sử của dân tộc Việt Nam ngày nay chỉ còn biết đến qua truyền thuyết về các Vua Hùng và Âu Cơ Lạc Long Quân. Tuy nhiên, khác với các vương quốc Bách Việt khác, Việt Nam sau thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc đã không bị đồng hóa mà vẫn trụ vững với bản sắc dân tộc riêng, với tư cách một quốc gia dân tộc độc lập còn lại duy nhất của Bách Việt. Đây cũng là thành quả chung của Bách Việt vì trong thời kỳ nào cũng có nhiều thế hệ người gốc Bách Việt rời bỏ TQ, kể cả những quan lại do Vương triều cử đến VN, để chọn cách hội tụ tại vùng đất này để lập quốc nhằm giữ gìn cốt cách và bản sắc văn hóa của mình. 
Vẫn biết hiện tượng xâm lấn, chiếm đoạt đất đai và đồng hóa dân tộc đưa đến sự thịnh hoặc suy của các quốc gia trên thế giới là lẽ đương nhiên, kể cả trường hợp giữa Hán tộc và Việt tộc. Nhưng nếu cố tình xuyên tạc, tráo đổi những sự thật lịch sử là một tội ác trước nhân loại. Trên thực tế, giới cầm quyền TQ thời nào cũng vi phạm tội ác này. Họ không bao giờ chịu thừa nhận thực tế là các tộc người Bách Việt chiếm phân nửa dân số của TQ ngày nay đã và đang góp phần tạo nên cốt cách của nền văn minh TQ hiện đại. Họ cũng lờ đi thực tế rằng ngay cả bên trong nước TQ ngày nay cũng chưa hẳn đã hoàn toàn ổn định trước trào lưu đòi tự trị hoặc độc lập của các tộc người không phải Hán tộc như Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, người Tạng ở Tây Tạng, và một số dân tộc thiểu số gốc gác Bách Việt ở miền nam; trường hợp Đài Loan là khá rõ ràng. 
Chỉ có những kẻ bất chấp sự thật mới dám gọi Việt Nam là “đứa con hoang” (của TQ). Và đó là một thứ tư tưởng dân tộc bệnh hoạn sặc mùi chủ nghĩa bá quyền nước lớn, nếu không được ngăn chặn sẽ trở thành chủ nghĩa phát xít chưa biết chừng. Nếu còn chút liêm sỉ họ nên biết trân trọng giữ gìn những mặt tốt đẹp của quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt- Hán, biết tôn trọng mối quan hệ bình đẳng với nhau. Nếu làm ngược lại điều này họ sớm muộn sẽ đẩy nước TQ vào vòng xoáy của bạo lực không thể tránh khỏi thất bại, tan rã như đã từng thấy trong lịch sử.  
——
(*) Được biết sử sánh TQ không thừa nhận Nam Việt của Triệu Đà trong khi sử sách VN đa số ý kiến coi Triệu Đà là “xâm lược phương Bắc”, nhưng Hưng Đạo Vương đã coi Triệu Đà là “bậc tiền bối của dân tộc”. Thiện nghĩ,  giới sử học VN cần xem xét đánh giá lại vấn đề này.

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Lời bàn bạc: Việt Nam phải nhanh chóng khởi tố Trung Quốc xâm phạm chủ quyền/ Nguồn Yahoo Tin tức

Vì sao Việt Nam nên khởi kiện Trung Quốc?

(TNO) Trước tình hình Trung Quốc ngày càng đẩy căng thẳng leo thang trên biển Đông, Việt Nam luôn thể hiện quyết tâm sẵn sàng khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nếu Bắc Kinh vẫn không rút giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) ra khỏi vùng biển Việt Nam.


Tàu cá Trung Quốc dàn hàng lao vào khu vực tàu cá Việt Nam - Ảnh: Trung Hiếu
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định Việt Nam đang “cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế”.
Thanh Niên Online xin giới thiệu loạt bài của luật sư Trinh Nguyễn và đồng nghiệp, phân tích sâu về lý do tại sao Việt Nam nên khởi kiện, những thách thức sẽ phải đương đầu cũng như những luận cứ lịch sử cần thiết cho vụ kiện này.
Kỳ 1: Thời cơ có tiếng nói chính thức thông qua cơ quan tài phán quốc tế
Việt Nam từ lâu đã bằng cách này hay cách khác, thông qua nhiều kênh thông tin để khẳng định chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Nhưng phần lớn những khẳng định đó là tuyên bố của Việt Nam chưa có một sự đối thoại chính thức và có tính ràng buộc với Trung Quốc trước sự chứng kiến của một bên thứ ba được trao quyền tài phán.
Do vậy, khi chính thức đưa đơn kiện lại Trung Quốc về vấn đề chủ quyền, bản thân việc đưa đơn kiện đó đã giúp Việt Nam khẳng định rằng mình tin vào chính nghĩa và tự tin vì có những bằng chứng để chứng minh chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và vùng đặc quyền kinh tế.
Đây không chỉ là cuộc chiến pháp lý mà là một phương cách chính thống nêu quan điểm chính thức và dứt khoát của Việt Nam về việc này trước dư luận quốc tế. Đây cũng là cơ hội để phản bác lại lập luận của một số học giả Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã không có bất kỳ phản đối chính thức nào về việc chiếm đóng liên tục của Trung Quốc trên đảo Hoàng Sa.
Bản thân việc khởi kiện đã là một lời tuyên bố mạnh mẽ của Việt Nam về niềm tin vào công lý và luật pháp quốc tế và là một lời kêu gọi cộng đồng quốc tế quan tâm thật sự vào việc này. Hiện tại, vì tiềm lực kinh tế của Trung Quốc rất mạnh và hầu như rất nhiều nước trên thế giới có quan hệ kinh tế với Trung Quốc, do đó, cho dù họ muốn lên tiếng ủng hộ Việt Nam thì cũng phải có một cái cớ và một cơ sở nào đó. Cơ sở pháp lý đưa ra tại một cơ quan tài phán sẽ là cơ sở để cộng đồng quốc tế nhìn vào đó mà lên tiếng ủng hộ.
Tại sao vào thời điểm này?
Về phương diện kỹ thuật pháp lý, nếu một bên đưa ra vụ kiện tại một cơ quan tài phán với tư cách nguyên đơn thì sẽ có những lợi thế nhất định trong việc cơ cấu và trình bày các chứng cứ.

Có thêm 1 tàu kiểm ngư Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm trực diện -  Ảnh: Cục Kiểm ngư cung cấp
Đưa vào đơn khởi kiện và những yêu cầu khởi kiện (claims) mà cơ quan tài phán được lựa chọn sẽ yêu cầu bên bị đơn đưa ra những bằng chứng để phản biện lại những vấn đề trên. Bằng cách đó, chúng ta sẽ biết được những căn cứ pháp lý mà Trung Quốc đưa ra.  Cũng về mặt kỹ thuật pháp lý, bên nguyên đơn (claimant) sẽ chủ động hơn về mặt thời gian và chủ động trong việc chọn lựa cơ quan tài phán thích hợp cho các yêu cầu khởi kiện của minh (claims).
Xin lạm bàn một chút về những phương án có thể được xem xét trong tình hình hiện nay. Nếu xét một cách khoa học các phương án theo phương pháp loại trừ thì có lẽ việc đưa vụ việc này ra tài phán quốc tế là phương án khả thi nhất trong thời điểm hiện tại. Vì sao?
1. Khả năng dùng vũ lực (trừ khi để tự vệ) đã bị loại trừ ngay từ đầu vì nhiều lý do, mà quan trọng nhất là việc tuân thủ luật pháp quốc tế. Hơn nữa, nếu trong tình huống bắt buộc phải tự vệ thì việc không cân xứng lực lượng là một việc cần phải được cân nhắc.
Khi đó, nếu nhờ vào đồng minh thì phải có thờì gian thành lập liên minh và đương nhiên khi nhờ vả hoặc nhận sự hỗ trợ quân sự của một ai thì ít nhiều cũng sẽ bị ảnh hưởng hoặc phụ thuộc, điều mà Việt Nam chưa sẵn sàng.  Việc tìm kiếm đối tác chiến lươc cũng khả thi, tuy nhiên cũng cần có thời gian chuẩn bị.
2. Khả năng đàm phán bằng con đường ngoại giao đã được thực hiện một cách gần như triệt để. Hàng chục cuộc điện đàm, trao đổi gặp mặt thuộc các cấp đều chưa đạt đến các kết quả mong muốn.
Trong khi đó, tập đoàn dầu khí Hải Dương Trung Quốc - bên đã ra quyết định đặt giàn khoan trong vùng biển mà Việt Nam đã khẳng định chủ quyền - đã nhấn mạnh rằng việc lắp đặt giàn khoan này đã được sự chấp thuận của chính phủ Trung Quốc.
Như vậy, bằng sự hiện diện của giàn khoan này, chính phủ Trung Quốc đã ngang nhiên thể hiện ý đồ khẳng định quyền được khai thác trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vì vị trí giàn khoan Hải Dương 981 đặt cách đảo Tri Tôn - một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam - 17 hải lý, cách đảo Lý Sơn 119 hải lý. 
Đây có thể nói là một sự vi phạm của Trung Quốc đối với chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Do đó, có thể là một trong những bằng chứng để Việt Nam khởi kiện yêu cầu tuyên bố sự vi phạm này và yêu cầu không vi phạm.
Mục đích khởi kiện
Có người cho rằng, việc khởi kiện sẽ không có lợi vì hai bên trong vụ kiện sẽ khó ngồi lại với nhau trong các đàm phán/giao dịch tương lai. Trong con mắt của các luật sư, việc đưa một vụ việc ra giải quyết tại một cơ quan tài phán không làm chấm dứt con đường đàm phán.

Luật sư Trinh Nguyễn - Ảnh: nhân vật cung cấp
Ngược lại, bằng việc đưa một vụ việc ra phân xử tại cơ quan tài phán, bên nguyên có thể thúc đẩy việc ngồi lại đàm phán một cách hiệu quả hơn.
Việc đưa ra khởi kiện còn là một bài toán, một nước cờ mà yếu tố thời gian cần được cân nhắc.
Mặc dù việc Trung Quốc có đặt giàn khoan tại vùng đặc quyền kinh tế không là một cơ sở duy nhất và đầu tiên để Việt Nam đưa vụ kiện về chủ quyền lãnh thổ ra cơ quan tài phán quốc tế, hành động lố bịch của Trung Quốc và các manh động khác (dùng vòi rồng tấn công tàu kiểm ngư Việt Nam, dùng tàu để đâm vào tàu ngư dân Việt Nam…), có thể được ví như là một tình huống khẩn cấp cần được giải quyết.
Trong trường hợp này, với sức ép của dư luận cộng với các biện pháp có thể được tiến hành đồng thời hoặc từng bước hậu thuẫn, thì việc Việt Nam đưa vụ việc vi phạm chủ quyền ra cơ quan tài phán quốc tế sẽ được lưu tâm và giải quyết sớm. 
Khi quyết định đưa ra khởi kiện, đôi khi mục đích của bên khởi kiện là tạo một sức ép để bên kia đàm phán nghiêm chỉnh. Khi đơn kiện được nộp đúng nơi và được thụ lý bởi cơ quan tài phán có thẩm quyền là bên khởi kiện đã thành công được 50%.
Trong vụ việc này, nếu mục đích chính của Việt Nam là muốn có một tiếng nói chính thức bằng con đường sử dụng luật pháp quốc tế thì nếu đã làm bài toán loại trừ, có lẽ đây là một phương án khả thi nhất.  Phương án này cũng không triệt tiêu các phương án khác mà có thể kết hợp với các phương án khác khi cần thiết.
Nhưng muốn đánh giá được xác suất thành công (thắng kiện chỉ là một thành công trong những thành công có thể có như đã nêu ở trên) thì chỉ khi nào bắt tay và lập kế hoạch khởi kiện cụ thể, và bắt tay vào soạn thảo đơn kiện và đánh giá chứng cứ mới có thể đánh giá chính xác hơn sự thành công của vụ kiện.
Do vậy, tôi nghĩ đây là thời cơ tốt nhất để Việt Nam đưa các cơ sở pháp lý của mình ra một cơ quan tài phán để khẳng định rằng Việt Nam luôn khẳng định và chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền đã được thiết lập của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong trận chiến pháp lý, khi thời cơ đã đến thì phải nắm lấy và hành động. Một số ý kiến quan ngại các khó khăn mà Việt Nam sẽ gặp phải như việc Trung Quốc sẽ từ chối không tham gia vụ kiện hoặc cần phải kiện ở tòa nào và đưa ra các yêu cầu khởi kiện gì.  Đây là các vấn đề kỹ thuật pháp lý sẽ được xử lý bởi các chuyên gia pháp lý chứ không phải là những trở ngại cho chủ trương khởi kiện.
Trinh Nguyễn là luật sư tốt nghiệp thạc sĩ luật tại đại học Queensland University (Australia). Cô có kinh nghiệm làm việc với các hãng luật quốc tế như Freehills, Phillip Fox, HopGood Ganim.
Luật sư Trinh Nguyễn và đồng nghiệp