Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong.

 

Chân dung HXH qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong.

====================================================

Theo tài liệu của TS PHẠM TRỌNG CHÁNH – Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình của Tốn Phong.

*

Từ nay lòng khổ vì thương nhớ,

Gối lạnh phòng không nỗi đoạn trường.

(Bài 19)

Gặp lại Phi Mai còn nhớ nhỉ ?

Phong trần đày đọa một tình đau.

(Bài 31)

A. 31 bài thơ tình Tốn Phong

Thơ Tốn Phong gồm 31 bài thơ chữ Hán:

11 bài viết năm 1807 sau khi hỏng thi Hương trường Nghệ lần thứ nhất và

20 bài viết năm 1814 sau khi hỏng thi Hương trường Nghệ lần hai.

Thơ Tốn Phong óng ả, bóng bẩy trữ tình. Thơ gởi cho giai nhân thì treo giải nhất, chẳng nhường cho ai, nhưng chốn trường quy, thơ để thử ý chí tài năng trị nước bình thiên hạ, thì ta hiểu vì sao chàng lận đận thi cử hai phen không đỗ.

Tôi (TS Phạm Trọng Chánh) dịch 31 bài thơ này, và sau đó sắp xếp từng câu thơ theo đề mục, để suy ra cuộc đời Hồ Xuân Hương. Từ thi ca đến thực tế cuộc đời với những câu thơ làm đẹp và phản ánh cuộc sống, người đọc sẽ nhận thức được cái nhìn của người đương thời về Bà Hồ Xuân Hương. Điều nầy, phải chăng là một khám phá mới mà trước nay, chưa có nhà nghiên cứu nào nhắc đên...

*****

      Baøi 1: (Bài 1)

Nhất Nguyên diễn í (y) bài 1:

Tốn Phong viết:

Từ Hồ Kim Âu trước cửa Quốc Tử Giám,

Tôi không phải là anh thuyền chài ở Vũ Lăng, mà cũng gặp được nàng tiên cõi Đào Nguyên.

Nhà nàng nằm hướng Đông đối diện với Hồ Tây, trời xanh, mưa móc điều hòa.

Nàng viết những bài thơ tuyệt vời như mây khói bay lên, như khúc hát Bạch Tuyết của Sư Khoáng đời Chiến Quốc khó ai họa được.

Tư cách nàng xuất chúng, thanh nhã không ai ví bằng.

Tài văn chương nàng làm thế gian kinh ngạc, nàng là tiên Ngọc Nữ được trời sai xuống trần.

Tỏa ngát hương mai khi cùng nàng nâng chén rượu mừng gặp gỡ.

Gặp nàng, tôi ngỡ như gặp lại người xưa, vốn đã có nhân duyên từ kiếp trước.

*

Hữu duyên nên mới gặp nàng tiên? Tranh minh họa Bài1, Google.

*

Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 1:

Kim Âu [1] Hồ Thượng Giám môn tiền,

Phi Vũ Lăng [2] nhân tự đắc nguyên.

Tọa đối thanh dương điều vũ lộ,

Ngâm thành bạch tuyết [3]khởi vân yên.

Xuất quần phong cốt thanh ư ngã,

Kinh thế văn chương giáng tự thiên.

Phao khước mai hương tần cử tửu,

Đối quân nghi thị cựu hà duyên.

  *

  Bản chữ Hán, Ngân Triều soạn, bài 1.

調

                                    *

[Bài 1]

Thơ chữ Hán Tốn Phong tặng Hồ Xuân Hương,

Nhất Uyên dịch thơ.

Trước nhà cửa Giám, hồ Âu Vàng,

Tìm đến Đào Nguyên, chẳng Vũ Lăng.

Đối mặt trời xanh mưa móc thuận,

Ngâm thơ tuyết trắng khói mây dâng.

Hơn đời phong cách ta sao ví,

Nổi tiếng văn chương tiên xuống trần.

Tỏa ngát hương mai nâng chén rượu,

Gặp nàng ngờ trước sẵn nhân duyên.

*

Ngân Triều  cảm đề 1:

Dạo bước Kim Âu, cửa Giám viên,

Hữu duyên nên mới gặp nàng tiên?

Hướng Đông gió lộng điều mưa thuận,

Văn bút đề huề [4]mây khói lên.

Cốt cách tuyệt trần, trang diễm lệ, [5]

Thi tài ngọc nữ thế gian kiêng. [6]

Hương mai [7] tỏa ngát khi nâng chén,

Có phải gặp nàng, gặp túc duyên? [8]

                                   *

                     Nguồn: Tham khảo TL của TS Phạm Trọng Chánh, Paris, như tiêu đề

 *****

Baøi 2: (Bài  2)


Hồng Lĩnh tinh anh sông núi đó,Cố kinh mai đẹp nhất trời Xuân. Ngân Triều

Ảnh Núi Hồng Lĩnh, Sông Lam, Hà Tĩnh, Google

*

Dịch nghĩa của Nhất Uyên, bài 2:

Trong Tao Đàn đã xuất hiện vị thần thơ,

Là người đồng quận duyên may được quen biết nàng.

Nàng vốn dòng dõi gia đình vọng tộc quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống, họ Hồ nhiều đời làm quan đứng đầu triều đình…

Nàng xinh đẹp tuyệt vời như tiên giáng trần.

Từ ngàn xưa vùng Hoan Châu vẫn nổi tiếng nhiều anh tài tuấn kiệt.

Nàng là ngôi sao Khuê kết tụ của văn học mười phân vẹn mười.

Nên nhớ 99 ngọn Hồng Lĩnh quê hương của nàng, nàng là tinh anh của núi sông đó. Nàng là hoa mai xinh đẹp nhất chiếm cả mùa xuân cố kinh thành vua Lê.

 *
            Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 2:

Tao Đàn [9] đàn thượng xuất tao thần,

Đồng quận tương phùng hỉ đắc quân.

Hoàng Các [10] khấu lai chân vọng tộc,

Hồng nhan nghi thị thác sinh thân.

Hoan phong [11] thuần túy tri thiên cổ,

Khuê tọa tinh hoa hào thập phần.

Cửu thập cửu phong tằng ức phủ,

Mai hoa độc chiếm đế thành xuân.

                                     *

Bản chữ Hán,

            Ngân Triều soạn, bài 2:

*
Nhất Uyên cảm đề, bài 2:

Tao Đàn xuất hiện vị thơ thần,
Đồng quận duyên may được biết nàng.
Hoàng Các vốn gia đình vọng tộc,
Hồng nhan tiên giới thác sinh chăng ?
Châu Hoan thuần túy từ ngàn trước,
Khuê tú tinh hoa vẹn thập phần.
Chín chín đỉnh non Hồng có nhớ,
Hoa Mai xuân sắc nhất kinh thành.

*

Ngân Triều cảm đề, bài 2:

Thần thơ kiệt xuất nức Tao Đàn,

Đồng quận duyên may gặp gỡ nàng.

Dòng dõi trâm anh danh vọng tộc,[12]

Tố nga, hay tiên nữ lâm trần!

Hoan Châu linh địa sinh nhân kiệt,

Tinh túy [13] sao Khuê vẹn thập phần. 

Hồng Lĩnh tinh anh[14] sông núi đó,

Cố kinh[15] mai[16] đẹp nhất trời Xuân.

Ngân Triều

*

Nguồn: Tham khảo TL của TS Phạm Trọng Chánh như ghi trên tiêu đề.

 

                                                                       


Tranh  Bà Hồ Xuân Hương, minh họa bài 2, GoogleTop of Form

*****
Baøi 3:
(Bài 3)

.Mùa xuân làng Nghi Tàm hoa bay bay khắp nơi, những xác hoa tàn rơi rụng đầy trên mặt đất.

.Đi đến Đình Mai hỏi thăm chủ nhân.

.Nàng hiện ra như người tiên trong mây đang múa khúc Nghê Thường trong giấc mơ Vua Đường Minh Hoàng lên chơi cung trăng.

.Trong bóng trăng nghe như tiếng nhạc Quân Thiều, khúc nhạc ca ngợi cảnh tượng đất nước thịnh trị, thanh bình.

.Một bầu mây nước nhuần nhụy đóa hoa lòng.

.Mắt nàng sáng như các vì sao, từ vạn dặm; các vì sao như mới nguyên,  làm long lanh đôi mắt nàng.

.Nhìn suốt cầu vòng mà nhớ tới nỗi niềm của Ngưu Lang, Chức Nữ.

.Ta đã đến gặp nàng không cần cầu vồng, hay thiên hà, không phí phạm hết một dòng sông bạc.

                                    *

Nhất Uyên phiên âm Hán Việt, bài 3:

Phồn hoa mãn địa lạc phân phân,

Khẳng hướng mai đình nhận chủ nhân.

Nghê Vũ [17] tiên dung vân thượng kiến,

Quân Thiều[18] thiên khúc nguyệt trung vân.

Nhất xoang vân thủy tâm hoa nhận,

Vạn lý tinh hà nhãn kính tân,

Vọng đoạn hồng kiều Ngưu Nữ[19] tứ,

Thiên hà phí tận nhất giang Ngân.

*

Bản chữ Hán,

Ngân Triều soạn, bài 3:

滿

𠅘

*                         


Bài 3 Tranh minh họa, Ngưu Lang-Chức Nữ, tranh Google

*

Nhất Uyên cảm đề bài 3:

Bay bay ngập đất rụng hoa tàn,

Thẳng hướng đình mai hỏi chủ nhân.

Nghê Vũ người tiên mây giáng hiện,

Quân Thiều thiên khúc bóng ca trăng.

Một bầu mây nước hoa nhuần nhị,

Vạn dặm sao trời mắt sáng trong.

Nửa ánh cầu vòng Ngưu Nữ nhớ,

Thiên hà hoang phí một dòng ngân.

*

Ngân Triều cảm đề, bài 3:

Trời Xuân rực rỡ đầy hoa rụng,

Trực chỉ Đình Mai hỏi chủ nhân.

Bóng hiện Nghê Thường, ngây điệu múa,

QuânThiều say giai khúc trăng ngân.

Cung đàn mây nước[20]lòng mê đắm,

Vạn dặm sao trời đôi mắt xanh [21].

Ngắm nét mi hồng[22] Ngưu - Nữ  chạnh

Tìm hoa khắc gặp phí sông Ngân[23].

           NgânTriều



[1] Kim Âu tên hồ ở phường Bích Câu nay đã lấp, khoảng đường Cát Linh gần Văn Miếu Quốc Tử Giám.

[2] Vũ Lăng   Trong Đào Nguyên Ký của Đào Tiềm, ông chài ở Vũ Lăng tìm ra lối vào Đào Nguyên.

[3] Bạch Tuyết   và Dương Xuân hai khúc hát do Sư Khoáng làm ra, theo Tống Ngọc cả nước chỉ 2, 3 người họa được.

[4] đề huề: , hòa hợp đủ sức, đủ tài năng thể hiện.

[5] diễm lệ,  ,xinh đẹp, đẹp lộng lẫy, nói về nhan sắc và văn chương, beauté.

 [6]  kiêng, không phạm đến, nể nang, quý trọng.

[7] Hương Mai: , Hương của hoa Mai, nhà Hồ Xuân Hương  có trồng một vườn Mai trắng, còn gọi là Mai chiếu thủy, khi trổ hoa nghe mùi thơm phảng phất dịu dàng. Theo cấu trúc chữ Hán ghi là Mai hương, . Mặt khác, Tốn Phong còn có ý chơi chữ, nêu tên chủ nhân, Hồ Phi Mai, tự Xuân Hương.

[8] Túc duyên, 宿 , hay túc căn, 宿 , theo Phật, có căn duyên sẵn từ kiếp trước nên kiếp nầy mới gặp.

[9] Tao Đàn do chữ Ly Tao, tác phẩm của Khuất Nguyên( 300 năm trước Tây lịch) thời Chiến Quốc, nói lên nỗi bi thảm không nguôi của một trung thần nói phải, làm tốt mà vua không nghe theo, để đến nỗi nước mất nhà tan. Sau chữ tao được dùng để thay thế những từ văn nhã hay văn thơ xuất sắc, tao đàn là đài thơ, nơi tụ họp những nhà thơ xuất sắc.

[10] Hoàng Các gác vàng, chỉ gia đình quyền quý, tích Đỗ Như Hối làm Tể Tướng nhà Đường ba chục năm, chăm lo cho dân cho nước. Hoàng Các tam thập niên, thanh phong tiên vạn cổ. Gác vàng ba mươi năm mà bia thơm để muôn đời…  Ám chỉ họ Hồ nay có quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống từng đứng đầu triều đình để tiếng thơm đời sau.

[11] Hoan phong   những phong cách cao quý của người vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khuê: ngôi sao tượng trưng cho văn chương.

[12] Quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống. Họ Hồ nhiều đời làm quan đứng đầu triều đình.

 [13] tinh túy, như tinh anh, .

14tinh anh, , cái cốt lõi tốt đẹp. cái quý nhất của sự vật.

15Cố kinh, đế thành, kinh thành cũ của triều Lê, tức kinh thành Thăng Long.

16Mai, tên Hồ Xuân Hương tức Hồ Phi Mai.

17Nghê Vũ   tích Vua Đường Minh Hoàng nằm mơ thấy lên chơi cung trăng, gặp các tiên nữ, mặc áo xiêm bảy sắc như cầu vòng, múa hát rất đẹp. Vua nhớ lại đặt ra khúc Nghê Thường dạy cung nữ múa hát.

 [18] Quân Thiều   tên khúc nhạc nói lên cảnh tương thời thái bình

.[19] Ngưu Nữ  牛女, tích Ngưu Lang, Chức Nữ. Chức Nữ con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế, yêu chàng chăn trâu, bị trời chia ly bắt thành Sao Hôm và Sao Mai ở hai bên bờ sông Ngân Hà, mỗi năm gặp nhau một lần vào ngày mồng 7 tháng 7 âm lịch, mùa này quạ rụng lông đầu để bắt nhịp cầu Ô Thước cho hai người gặp nhau, nước mắt rơi xuống trần gian thành mưa ngâu, sau đó lại phải xa nhau.

 [20] mây nước: vân thủy, tấu khúc Lưu Thủy, Hành Vân, điệu đàn cao thấp, bổng trầm…ngẩn ngơ tiếng tơ, si người đánh đàn.

[21] ý nói đôi mắt sáng, long lanh như sao trên trời vạn dặm.

[22] mi hồng, đoạn hồng kiều, hai nét mi cong trên khuôn mặt khả ái của người đẹp.

[23] Ta tìm nàng khắc gặp, không có sông Ngân ngăn trở, như Ngưu Lang và Chức Nữ. Do đó, phải chăng ta với nàng như Ngưu Lang-Chức Nữ, không ngăn cách bởi sông Ngân.