Ngàn Lẻ Một Chuyện Lạ Về Ngựa
Nhìn
những con ngựa đẹp đẽ và kiêu hùng ngày nay, không mấy ai có thể tin
được là tổ tiên của chúng ngày xưa bé nhỏ như một con cáo với cái tên
gọi Echiput, sống trong những khu rừng ẩm ướt ở Bắc Mỹ, cách đây hơn 50
triệu năm. Trải qua bao nhiêu lần tiến hóa, loài ngựa mới có được bộ
dạng hiện tại. Nhưng trên hết cũng nhờ sự thuần hóa sớm sủa của con
người, nên ngựa đã trở nên một nhân vật hữu dụng, đồng hành với thế nhân
suốt các đoạn đường lịch sử. Tại Đông Phương cách đây khoảng 2000 năm
trước Tây Lịch, ngựa đã dùng để kéo chiến xa, rồi trở thành
chiến mã và kỵ binh, là lực lượng chủ yếu trong tất cả quân đội trên
thế giới, suốt thời trung cổ. Ngựa cũng là một trong sáu con vật thân
thương rất gần gũi với con người, là phương tiện giao thông hữu hiệu khi
tàu bè, phi cơ, xe cộ chưa được phát minh. Cũng do sự gắn bó quá mật
thiết giữa người và ngựa, nên trong kho tàng văn chương nhân loại, qua
các thời đại, đã tiềm tàng không biết bao nhiêu chuyện lạ về ngựa.

Viết
về con vật thân quý này, làm sao chúng ta có thể quên được những ngày
binh đao lửa khói, làm vỡ nát da thịt quê hương. Chiến địa đạn bay, ly
bồ đào mỹ tửu trên tay những người lính trẻ, chưa kịp cạn thì ngựa đã hý
vang từng hồi giục giã; Ôi “Túy ngọa sa trường quân mạc vấn, cổ lai
chinh chiến kỷ nhân hồi”. Thương thay bầy ngựa Hồ sa cơ, bao nhiêu mỏi
mòn hý gió bấc, chờ ngày quay về tàu ngựa cũ. Quay về, hãy nhắc nhau đi
hỡi những con chiến mã của một thời ngang dọc
ta là con ngựa trận
xông xáo khắp mười phương
từ miền trung hỏa tuyến
đến tận nước non cùng
1-PHẢ HỆ CỦA NGỰA:
-Akhal-Teke :
Là chúa tể trong sa mạc Karakoum. Nó chính là tổ tiên của tất cả những
ngựa giống trên thế giới. Ngày xưa, những cuộc trường chinh từ Âu sang Á
hay ngược lại, Xerxès, Alexandre và Moghol …đều dùng nó làm kỵ binh
xung trận. Thánh địa của loài ngựa trên, hiện là trại ngựa giống của
quốc gia Turkméniatan, nằm ngoài thủ đô nước này là Achkhalan chừng vài
chục cây số, gần biên giới Ba Tự chỉ có sa mạc cát và những rặng núi
trùng điệp của Kopei và Khorassan. Nhờ tuyết tan vào mùa hè đã tưới bón
những cánh đồng cỏ, nuôi sống những con ngựa hoang quen sống đời tự do
bay nhảy. Những lúc thiếu cỏ, bầy ngựa hoang trên đã vượt biên giới sang
nước láng giềng để kiếm ăn, và lúc trở về, với vó câu của hơn 200 con
hoang mã phi nước đại, sức mạnh có thể bạt núi, xô thành, khiến cho con
người và xe cộ ngược chiều phải nhào xuống hai bên vệ đường để khỏi bị
chết bẹp. Akhal-Teke là một sáng tạo tuyệt vời của tạo hóa, có dáng điệu
nhanh lẹ như một con chó săn với các bắp thịt ngực cuồn cuộn nở, mặt
nhô ra còn đôi mắt như có hào quang luôn nẩy lửa khi đối diện với kẻ
thù. Nhưng theo các nhà nghiên cứu thì chính cái cổ mềm mại như cổloài
Thiên Nga, mới chính là yếu tố đưa nó lên ngôi chúa tể của loài ngựa.
Cảcái tên ngựa
cũng mang tính huyền thoại, nó mang tên ốc đảo Akhal và bộ tộc Teke, là
địa danh và tên người cư ngụ tại đây từ ngàn đời. Tóm lại hầu hết các
dân tộc miền Trung Á như Turkménistan, Massagètes, Paarthes, Alains,
Pghouzs, Qarlougs …kể luôn cả người Ba Tư nói rằng nó là hóa thân của
Thượng Đế. Chứng tích huyền thoại trên, ngày nay đã được tìm thấy trong
những bản thánh ca sơ khai của Avesta, thuộc Ba Tư cổ, hiện được
Turkménistan viết lại.
-Ngựa Nisa :
Là tổ tiên của giống Akhal-Teke mà quân đội Xerxes rất lấy làm hãnh
diện. Nisa là tên thủ đô của vương quốc cổ Parthes, cách Achkhabab ngày
nay không bao xa. Từ thời xưa, Nisa được người đời xưng tụng là ngựa
vàng, vì màu vàng là điểm độc đáo nhất, của giống ngựa hoang Akhal-Teke
và dân tôc Turkménistan. Ngày xưa, các vua chúa tôn sùng ngựa Nisa đến
độ khi chết phải đem ngựa
theo xuống nhà mồ. Những vị anh hùng như Karkara Ahmed và Allaouddin
Pacha mà huyền thoại là những người đầu tiên của miền Trung Á đã cùng
với đoàn Kỵ binh Nisa, vượt rặng Caucase và biển Caspienne để chinh phục
Constantinople, khi chết đã chôn chung với ngựa, giống như các danh
tướng đời nhà Hán như Ban Siêu, Mã Viện …gần trọn đời bôn ba trên lưng
tuấn mã, đến khi chết thì da ngựa bọc thây. Đó mới chính là thanh khí
của bậc đại trượng phu, quân tử mà Đông, Tây thời nào cũng có. Riêng con
ngựa giống của quốc vương Osman 2, thì sống quãng đời còn lại của nó
tại lăng miếu của ông ta cho tới lúc chết.
-Loài Ngựa Hoang Cuối Cùng :
Hiện nay có thể nói là gần hết ngựa hoang còn sót lại của thời hồng
hoang mấy chục năm về trước, đã bị con người thuần hóa. Thếnhưng loài
ngựa giống nổi tiếng Przewalskii, vẫn là loài ngựa thời tiền sử cuối
cùng còn lẩn trốn và tồn tại trong thiên nhiên, qua sự săn đuổi tận
tuyệt của con người. Sự phát hiện về con vật tiền sử trên vào năm 1878,
khi
Đại tá Nikolai Przewalskii thuộc quân đội của Sa Hoàng, khi đến công
tác tại cánh đồng cỏ vùng Ngoại Mông, đã nhìn thấy ở đó có một con ngựa
chưa hề thấy bao giờ. Nó thấp và có thân hình ngắn kể cả bốn chân, còn
bờm thì dựng đứng lên trên gáy. Con ngựa này đã làm giới khoa học thời
đó bàng hoàng vì chính họ cũng không thể xác nhận được lý lịch và nguồn
gốc của nó. Qua bao nhiêu năm ròng rã theo gót ngựa hoang, giờ đây bí
mật đã được vén, và nó qua cái tên khoa học là Equus Przewalskii, nhóm
ngựa hoang cuối cùng trong loài ngựa, chưa hề bị con người chinh phục.
Nó sống thành từng đàn tự do trong thiên nhiên và dĩ nhiên bị săn đuổi
khủng khiếp, chẳng những từ các nhà khoa học, sở thú mà ngay những gánh
xiếc cũng muốn có một con ngựa như
vậy để minh chứng hùng hồn với nhân loại về nguồn gốc của loài ngựa.
Hiện đàn ngựa trên gần như biến mất tại Mông Cổ, nhưng khắp nơi trên thế
giới còn tồn tại được 52 con ngựa giống trong các sở thú. Điều bất nhẫn
cho số phận nhóm ngựa quý này là những con ngựa tuy được mang tên
Przewalskii nhưng các thế hệ sau đã bị con người lai giống nên đã không
còn thuần chủng nữa. Cuối cùng sự bất lực vẫn làm giới khoa học điên đầu
như thuở nào, nên chỉ còn biết thả chúng về lại cánh đồng hoang cựu tổ
tiên từ triệu triệu năm về trước, may ra đàn ngựa hoang nguyên thủy mới
có cơ hội không bị tuyệt diệt.
-Ngựa Vằn :
Quan sát kỹ bầy ngựa vằn đang gặm cỏ trên cánh đồng, nhiều người đã hoa
mắt vì không biết chúng nó vằn màu trắng hay màu đen. Tóm lại chẳng có
con nào giống con nào, nhưng điều khám phá lý thú nhất của giới khoa
học, khi phát hiện chính những hoa văn trên đầu, mới chính là căn cước
cá nhân của giống vật này, để bọn chúng tìm về phả hệ. Theo nhà khoa học
Đức Josef Reichholj, giải thích về lý do tại sao ngựa lại có vằn. Khi
chúng từ Á-Âu di cư sang lục địa Phi Châu, đó là những vùng da có
chứa sắc tố sẫm, hay còn gọi là chất lẳng Mélanine xuất hiện để chúng
ứng phó hợp thời khi sinh sống tại vùng đất mới. Ngoài ra, sự xuất hiện
những vằn đen trắng trên da ngựa, cũng là sự kỳ diệu của tạo hóa, vì nhờ
sự xen kẽ của những giải sọc đối chọi nhau, ngựa vằn ít khi bị sát hại
bởi loại ruồi Tsé-tsé, gây cho con vật căn bệnh ngủ thiên thu. Cũng có
nhiều giả thuyết khác cho rằng, những vằn trên lưng ngựa, chính là hình
thức ngụy trang để trốn lánh các thú dữ, nhất là sư tử. Các vằn còn là
cái máy điều hòa không khí, để ngựa luôn luôn có một thân nhiệt thích
hợp nơi sa mạc nóng bỏng ban ngày và buốt giá về đêm. Tuy nhiên, sự đồng
nhất trong nhiều giả thuyết, vẫn là lý do ngựa vằn có vằn, cốt để phân
biệt sự lẫn
lộn giữa ba loài trên hiện còn tồn tại. Tóm lại, qua bao triệu năm đời
đổi, tiến hóa, hiện nay phả hệ nhà ngựa (Equidate) còn gồm 6 loại tồn
tại:
-Ngựa Nhà : (Equus Domesticus) Hiện
nay có mặt khắp nơi trên thếgiới, gồm chừng 100 nòi khác nhau, được
dùng trong mọi công việc từ kỵ binh, kéo xe, thể thao, làm xiếc, đồng
áng…Nhiều nòi ngựa nhà nổi tiếng từ cổ chí kim mà ai cũng biết tới như :
*Ngựa
Mông Cổ : Có tầm vóc trung bình cao 1m4, thân hình cân đối, bụng thon,
ngực nở, bốn chân rất khỏe, màu lông đỏ hay nâu sẫm. Đặc biệt nòi ngựa
này rất dai sức, có thể phi nước kiệu trong vòng 10 giờ liền, với tốc độ
tối đa là 40km/giờ. Cũng do yếu tố trên, mà thuở xưa nó đã trở thành
Thiên Lý Mã và giúp cho đoàn quân viễn chinh Mông- Nguyên, trở thành bá
chủ từ Á sang Âu, trong suốt thế kỷ 8 tới 13 sau Tây Lịch.
*Ngựa
Ả Rập : Đây cũng là những con chiến mã vang danh thiên hạ có tầm vóc
trung bình cao từ 1m35 tới 1m4, dai sức khỏe mạnh không thua kém ngựa
Mông Cổ. Vì ngựa có sắc lông màu nâu điểm đốm trắng nên còn được gọi là
ngựa hoa mai. Ngựa rất thích nghi với khí hậu khô hạn của miền sa mạc
cát gió tại bán đảo Ả Rập miền Trung Cận Động . Cũng nhờ đoàn kỵbinh
hùng dũng này, mà đế quốc Hồi Giáo Ả Rập đã bành trướng mạnh mẽ trong
suốt thời trung cổ. Ngày nay, ngựa này vẫn là những con ngựa đua nổi
tiếng rất được nhiều người ưa chuộng.
*Ngựa
Anh : Nòi ngựa này có tầm vóc cao lớn, từ 1m4 tới 1m5, nặng tới 400 ký,
gồm Hồng Mã (màu nâu đỏ) và Bạch Mã (màu lông trắng). Vóc dáng cũng
khỏe mạnh cân đối như các nòi ngựa chiến trên, nên thuở xưa, nước Anh
giữ ngôi vị bá chủ thế giới trong hằng bao thế kỷ cũng nhờ đoàn kỵ binh
kiêu hùng và thiện chiến. Hiện nòi Bạch Mã Anh rất quý hiếm, luôn được
sử dụng trong các cuộc thi tài thế vận .
*Ngựa
Cabardin : Sinh sống tại các nước Bắc Âu và Nga La Tư, cao và nặng như
loài ngựa Anh, chịu được khí hậu băng giá miền Bắc Cực, lại rất hữu dụng
trong mọi công việc, từ ngựa trận, ngựa đua cho tới thồ hàng và kéo xe.
Ngựa Cabardin hiện lai giống gồm 2 nhánh, ngựa Buclionnui có bộ vóc
nhanh khỏe dung trong quân đội tại miền rừng núi hiểm trở, không sử dụng
được cơ giới và phi cơ, nhánh Vladimia có bộ vóc thô kệch nhưng giỏi
chịu đựng, dùng thồ hàng, kéo xe có trọng tải tới 2 tấn .
*Ngựa
Việt Nam : Hiện nay cả nước có chừng 180.000 con ngựa các loại, 70% tập
trung tại miền thượng và trung du Bắc Việt, dùng để cưỡi, kéo xe, thồ
hàng và sử dụng trong quân vụ. Từ năm 1977, VN nhập cảng nòi ngựa
Cabardin của Liên Xô để lai giống với nòi ngựa cũ, vốn có vóc dáng nhỏ
bé so với các loài ngựa khác trên thế giới, cao không quá 1m2, nặng
chừng 170 ký, tốc độ chỉ đạt được 18km/giờ, thồ chừng 50kg và kéo tối đa
700kg. Trước kia, VN có trại lai giống ngựa tại Nước Hai (Cao Bằng),
hiện nòi ngựa mới, qua sự lai giống giữa
ngựa VN, Mông Cổ và Cabardin gồm 2 nhánh F1 (50% VN+50% Cabardin) và F2
(75%VN+25% Cabardin), có vóc dáng cao lớn và cân đối hơn ngựa VN, lại
thích hợp trong mọi điều kiện hoàn cảnh và khí hậu nhìn rất đẹp nhờ có
màu lông đồng đều .
-Ngựa Rừng : Gồm các loại ngựa đã kể trên .
-Ngựa
Vằn: (Hippotigris Zbeea) Có tầm vóc như ngựa nhà, lông có các vằn trắng
xen nâu đen, sống thành từng đàn nơi hoang dã tại rừng núi sa mạc thuộc
các nước Đông Châu Phi . Hiện còn tồn tại ba nhóm ngựa vằn : Hartmannn
dễ nhận biết nhờ cái yếm dưới họng, Ngựa Vằn Tai Lừa (Equus Grevyi) có
nhiều vằn hẹp và tai thẳng giống tai lừa, phủ đầy lông dầy,đây là loài
ngựa vằn dễ dạy hơn cả được thuần hóa như ngựa để cỡi hay kéo xe tại các
nước Abyssini, nam Sydan, Đông Phi, Somali. Nhóm ngựa vằn cuối cùng
đông đảo hơn cả và ở rải rác khắp Châu Phi, đó là Grant, có các vằn đen
trắng rất đẹp, đặc biệt trên mõm có một đóm nâu, sống lẫn lộn với Linh
Dương và các loài thú ăn cỏ.
-Lừa Rừng Châu Phi: Gồm 2 loài Asinus Africannus và Asinus Somaliensis, hiện sống tại miền rừng núi Nigeria, Somali và Congo.
-Lừa Nhà : (Asinus Asinus) Được
thuần hóa từ lừa rừng, phát xuất ở Á Châu, và ngày nay cũng như ngựa có
mặt khắp hoàn cầu. Lừa cao khoảng 1m4, nhìn giống ngựa nhưng từ thân
hình tới 4 chân rất thô kệch, lại chậm chạp và khó dạy, nên chỉ dùng để
kéo xe và cày bừa. Ngoài ra còn có La là một loài lai giữa cha Ngựa, mẹ
Lừa. Cả La cũng như Boodo
chạy chậm nên chỉ dùng để kéo xe mà thôi. Đặc biệt hai loài trên không
sinh sản được.
2-CÁC LOẠI TƯƠNG CẬN VỚI NGỰA :
:
Cùng nhóm thú móng guốc, ăn cỏ rất gần gũi với ngựa hiện nay, ta thấy
còn có Heo Vòi (Tapiradae), Tê Giác (Rhinocertidae), Lợn Lòi Phi Châu
(Phacochaerus Aethiopcus) và Hà Mã (Hippopotamiedae).
-Heo Vòi :
Có tên khoa học là Tapiridae, dù bộ dạng nhìn hơi giống lợn nhưng thực
ra giữa 2 loài không có huyết thống họ hàng gì cả. Loài thú móng guốc
này có một cái mũi được kéo dài thành một cái vòi ngắn, nên được gọi là
Heo vòi. Trong thời kỳ đệ tam địa chất, họ hàng heo vòi sinh sôi nẩy nở
khắp địa cầu. Ngày nay chỉ còn 3 loài sống tại Châu Mỹ La Tinh và một
loài khác tại Ấn Độ. Đó là Heo Vòi Đất (Tapirus Terrestris), cao chừng
1m và dài 2m, hoạt động ban
đêm, màu da xám nâu nhạt, lông ngắn và thưa …hiện sống thành đàn tại
miền rừng núi nhiệt đới, thuộc các vùng đông bắc Nam Mỹ, ăn hoa quả và
các cành cây nhỏ. Heo Vòi Đất hiền lành nên là mồi ngon của Báo bờm, Báo
sư tử. Heo cũng được các thổ dân trong vùng thuần hóa khi còn nhỏ, để
sử dụng như ngựa.
-Tê Giác :
Là loài thú sắp bị diệt chủng, hiện chỉ còn một số rất ít trong họnày
tồn tại gồm 21 loài. Trong số 5 loài sống sót tại Trung và Đông Phi chờ
xóa tên trong thế giới động vật, dù được bảo vệ tại các vườn thú quốc
gia. Có loài Tê Giác hai sừng (Diseros Bicornis), loài này có chiều dài
tới 3m4, đuôi 0m7 và cao 1m6. Có hai sừng, cái trước dài 1cm hơn cái
sau. Thường Tê Giác có màu da xám nâu nhạt nhưng lại đổi màu theo bùn
đất trong các ao lạch mà chúng dầm mình hàng ngày, ăn lá và cành cây,
rất dễ
bị phát hiện vì thói quen và mùi hôiđặc biệt. Tê Giác hiền lành, chỉ
chống trả khi bị người và các loại thú khác tấn công. Trong rừng, sư tử
là chúa tể sơn lâm, nhưng vẫn ngán sợ voi, hà mã và tê giác.
Ở
loài này, cái sừng nhọn là biểu tượng của sức mạnh long trời lở đất,
nhưng cũng chính cái sừng này làm cho nó bị diệt chủng. Khởi đầu và kết
thúc cũng đều là người Hoa khi dùng bột sừng Tê Giác làm thuốc kích dục,
cường dương. Bởi thế, giá một ký sừng hiện nay lên tới 100.000 phật
lăng. Tê giác mẹ mang thai từ 450 đến 490 ngày mới sinh nở, và thú con
đã nặng trên 20kg. Mẹ con sống với nhau cho tới khi Tê Giác mẹ mang thai
tiếp, thời gian này thường
kéo dì tới 4 năm . Một bất hạnh khác của chúng là số phận đã bị vua
chúa, quý tộc và bọn trưởng giả Tàu từ thời phong kiến, chọn làm thức ăn
trong thập trân, đó là món “Da Tê Giác Tây Tạng”. Ai cũng biết da loại
thú này dày hơn một tấc, cứng gần như sắt thép, các vũ khí thông thường
không thể sát hại nỗi. Nhưng cay nghiệt thay, lớp da nơi nách và háng
lại mềm, đây chính là phần được dùng để chế món thập trân. Da được cạo
hết lông, lọc bỏ hết phần mỡ, ban ngày phơi nắng, tối đốt lửa sấy đúng
100 ngày, đoạn đem tẩm rượu Mai Quế Lộ một tháng, rồi lại phơi khô, sau
đó mới đem cất vào hộp vàng hay bạc, để giữ nguyên hương vị. Lúc ăn lại
đem da ngâm vào nước tro thảo mộc trong một tuần, sau đó rửa sạch rồi
đem hấp cách
thủy. Món này ăn rất ngon, giòn và trân quý như Nem Công Chả Phượng. Từ
năm 1973, một hội nghị quốc tế tại Hoa Thịnh Đốn, quy định việc mua
bán, bảo vệ cho loài thú này, nhưng thật là điều khó khăn vì giá thú
càng lúc càng cao, theo túi tiền đầy ắp của các xì thẩu đang no cơm ấm
cật.
-Hà Mã :
Là con vật xuất hiện từ thời tiền sử, đầu tiên sống tại Âu Châu, có
trọng lượng và hình dáng to lớn như voi và tê giác. Hà Mã cao tới 1m5,
dài 4m5 và nặng từ 2 đến 3 tấn, sống thành đàn tại các vùng đầm lầy hiểm
trở thuộc Trung Phi, ăn thực vật, da dày như tê giác không có lông,
thường mang các màu hồng nhạt, nâu và xanh lam. Ngoài thời gian kiếm ăn
vào ban đêm, chúng chỉ ngâm mình dưới nước trong suốt thời gian còn lại.
-Zebroid, Con thú lai Ngựa Vằn và Ngựa : Zebroid
là kết quả phôi giống giữa vằn và ngựa, một con vật thuộc họ ngựa, lừa.
Thông thường khi lai giống, người ta chọn cha là ngựa vằn, mẹ là ngựa
nhưng đôi khi cha là lừa, mẹ là ngựa thì kết quả cũng thế thôi tuy rất
hiếm. Những con vật lai này có sọc vằn ở chân và vài nơi trên cơ thể.
2-ĐẶC TÍNH TÂM SINH LÝ CỦA LOÀI NGỰ :
Trong
6 con vật gần gũi và thân thương nhất của loài người, như trâu, bò,
ngựa, chó... ngựa ghé vai gánh vác chuyện thiên hạ nhiều đến nỗi không
kể hết. Cũng vì vậy nên đừng ngạc nhiên, khi thấy tên ngựa hầu như hiện
diện khắp nơi kể cả trong giấc mơ, chẳng hạn như ngủ thấy ngựa múa, đá,
hay ta đang cỡi ngựa là điềm cực hung, nếu không bị tan gia bại sản thì
cũng mất mạng. Ngược lại, thấy ngựa đi ngàn dậm hay cắn là hỷ sự thắng
lớn. Tóm lại vì quá đặc biệt, nên con vật này như có ngàn lẽ một câu
chuyện để nói mãi không ngán.
Người
đời thường nói : “Thẳng như ruột ngựa” là đúng vì ruột ngựa dài tới
22m, chỉ thua ruột trâu bò, nhưng manh tràng lại là một cái túi bịt đáy,
dài chừng 1m và đường kính 0,2m, có thể chứa được 30 lít nước. Nhờ các
vi khuẩn trong manh tràng, giúp sự lên men thức ăn, làm cho ngựa tiêu
hóa dễ dàng. Ngựa không thuộc loại nhai lại dù cũng ăn cỏ như trâu bò,
vì không có dạ dày 4 ngăn, còn manh tràng thì được xếp thành một túi
thẳng trong khoang bụng, nên
thường gọi là thẳng như ruột ngựa. Trước khi được thuần hóa, loài ngựa
sống tại các thảo nguyên trống trải, nên trời cho đôi mắt thật tinh để
phát hiện kẻ thù kịp thời, xa hàng trăm mét, tuy nhiên chỉ phân biệt
được 4 màu đỏ, vàng, xanh lá cây và da trời. Mũi cũng thính, có thể tìm
được mạch nước ngầm sâu dưới mặt đất, hay mùi cách xa cả km.
Ngựa
sống từ 30-40 năm, có con thọ tới 60 tuổi. Ngựa cái mang thai 11 tháng
10 ngày, đẻ mỗi lứa 1 con. Là con vật có trí nhớ tốt, chỉ cần sống hay
qua lại địa điểm nào một lần thì sẽ không bao giờ quên. Cũng do thân cận
hằng ngày, nên giữa người và ngựa gần như có một tình cảm thiêng liêng
khó giải thích. Tất cả những cử động đều là biểu tượng của ngựa, thay
tiếng nói, để trực tiếp làm việc với chủ. Nhờ vậy mà người và vật ít khi
có sự hiểu lầm đáng tiếc, ngoại trừ những kẻ bất nhân cố tình hành hạ
con vật .Đặc biệt các con ngựa khỏe mạnh, có thể ngủ
đứng mà không cần nằm nhờ 4 xương tứchi được bao bọc bằng một lớp gân
vững chắc, không hề mệt mỏi.
-Ngựa Trong Đời Sống Con Người :
Qua
hằng nghìn năm nay, người và ngựađã đồng hành suốt trên các chặng đường
lịch sử. Có lẽ vì sự liên hệ quá mật thiết cho nên trong kho tàng văn
chương nhân loại, ngựa chiếm hàng đầu. Ngựa trung thành, dũng mãnh nhưng
không kém phần bướng bỉnh, nếu không gặp được người chủ tướng tương
xứng và chinh phục được nó. Chính yếu tố tâm lý và tri âm, đã tạo nên
những huyền thoại lịch sử về những con hảo mã, gắn liền tên tuổi các
danh tướng rền vang thiên hạ, như A Lịch Sơn Đại Đế, Hốt Tất Liệt, Thành
Cát TưHãn …Bên cạnh
những Châu Liệt Vương đời Đông Chu với tám con hảo mã, dùng đểkéo xe
khi giao chiến với kẻ thù . Ngựa được mang những cái tên rất trang trọng
và hoa mỹ như Tuyệt Địa, Phiêu Võ, Bôn Tiêu, Siêu Kiềng, Du Huy, Siêu
Quang, Đằng Vũ và Quái Độc . Qua thời Hán, chuyện ngựa lại càng lâm ly
hơn với Hạng Vũ-Ô Mã, Quang Công, Tào Tháo, Lữ Bố, Lữ Mông với con ngựa
Xích Thố, Lưu Bị, Bàng Thống ngựa Đích Lô… Bước sang đời nhiễu nhương
Tùy Đường, anh hùng lập sự nghiệp trên lưng chiến mã, đã lưu lại trang
sử xanh nhiều vĩ nhân như Đường Thái Tôn (Lý Thế Dân) và Kim Mã, Thượng
Sư Đồ-Tần Thúc Bảo với ngựa Hồ Lôi Báo, ngựa Bảo Nguyệt, Ô Chùy của Uất
Trì Cung, nhờ nó mà bao lần cứu chúa .
Còn
có con ngựa già của Thầy Tam Tạng, nhờ quen đường, chịu đựng nên đã đưa
được Thánh Tăng từ Trung nguyên đến Thiên Trúc thỉnh kinh Phật. Đời
Tống, Mạnh Lương trung cang, nghĩa đảm, tên tuổi gắn liền qua các điển
tích “Thiên lý mã, Vạn Lý Vân của Bác Hiền Vương. Nhựt Nguyệt Tiêu Sương
Mã của Đại Khánh Lương Vương” làm rạng danh Dương Gia Tướng. Cuối đời
Tống mạt, có Nhạc Phi, nửa đời sống trên lưng Huỳnh Biêu Mã, với hoài
bão đuổi giặc Kim
ra khỏi Trung Nguyên, đến sa mạc rước Nhị Thánh hồi cố quốc, nhưng chí
lớn vỡ tan vì tên gian thần Tần Cối, cuối cùng chết thê thảm nơi Phong
Ba Đình trong một đêm trừ tịch, trời buồn đất thảm. Sự cảm động của
người xưa lưu lại cho hậu thế là niềm thủy chung son sắc của ngựa đối
với quê hương và chủ của mình.
Trong
cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan vào cuối năm 2001 đầu năm 2002,
nhằm tiêu diệt Taliban, Al-Qaeda và trùm khủng bố Osama Bin Laden.
Trong cuộc chiến này, qua nhiều địa thế núi non hiểm trở, quạn đội Hoa
Kỳ và Liên Minh Bắc A Phú Hãn phải dùng đến những con Chiến Mã thay thế
cơ giới và máy bay. Do đó ta thấy các vận tải cơ khổng lồ C17 của Hoa Kỳ
thường thả dù xuống các căn cứ nhiều ngủ cốc, rơm rạ và ngựa cho các
đơn vị hành quân tại sơn cước.
Làm
sao có thể ngăn được giọt lệ tủi đời khi đọc lại “Việt Điểu Quy Nam,
Hoa Lưu Hướng Bắc”?, về câu chuyện của những con chim Việt, Ngựa Hồ, xót
cảnh ly hương, cất giọng thiết tha trùng trùng ảo não . Nỗi thê lương
trên bãi chiến trường đã kết thúc, càng bùi ngùi bi đát hơn, khi bóng
những con ngựa lẻ loi đi tìm xác chủ, ngửi cọ và nhịn đói cho tới chết
bên cạnh người thân. Loài người có được bao nhiêu kẻ như ngựa, hay chẳng
qua chỉ là ăn
chén đá bát, đứng núi này trông non nọ, coi đạo lý và tình non nước
không hơn một nụ cười.
Như
để thưởng công và vinh danh con vật trung thành bậc nhất thiên hạ,
người ta đã cho xây đắp, đúc nhiều tượng ngựa. Nhưng hiện nay kỷ lục về
tượng người cỡi ngựa lớn nhất thế giới, vẫn là bức tượng đồng của vị anh
hùng dân tộc Tiệp Khắc Dideca, đã cùng với thuộc hạ mìnhđẩy lui được
ngoại xâm vào năm 1420. Tượng ông cỡi con chiến mã cao 9m, dài 10m, nặng
16,5 tấn, đứng trên một ngọn đồi tại thủ đô Praha. Trong nghệ thuật,
suốt 150 năm qua,
môn cỡi ngựa gần như chiếm lĩnh các sân khấu xiệc nổi tiếng của
Pháp-Đức. Còn hình ảnh nào dễ thương hơn khi được chứng kiến cảnh một nữ
kỵ sĩ mặc áo đuôi tôm, đầu đội mũ cao, ngồi vắt vẻo hai chân một bên
trên lưng ngựa, mặt che mạng hồng, ve áo có cài một chùm hoa tím. Đây là
biểu tượng của sự hào hoa phong nhã trong giới thượng lưu trí thức Âu
Tây vào cuối thế kỷ trước. Chính diễn viên nhào lộn người Anh Phillip
(1742-1814) là người đầu tiên đem môn cỡi ngựa lên sân khấu nghệ thuật
nổi tiếng qua bộ trang phục thời danh Lecadrenoir.
Ngựa
cũng dự phần trong lãnh vực đông y, nhiều tên và bài thuốc VN-Tàu mang
tên ngựa trứ danh như Mã Nhục, Cao xương Ngựa, Mã Đề, Bọ ngựa, Mã Tiêu,
Mã Tiêu Thảo …nhưng nổi tiếng nhất vẫn là thang Cá Ngựa, với tên khoa
học là Hippocampus, sống ở vùng nước mặn. Cá Ngựa còn có tên Hải Mã, Hải
Long, Hải Thủy, loài cá nhỏ có đầu giống ngựa, dài không quá 0,30cm,
màu trắng, vàng hay xanh đen. Tất cả đều được dùng làm thuốc kích dục,
tráng dương, trị
các chứng bệnh về sản khoa của phụ nữ.
Ôi!
Còn gì ý nghĩa cho bằng, khi nghe những lời Ngựa, con vật được nhân
cách hóa cho những người lính trận, một đời dấn thân vì non sông, đất
nước …để trả lời sự công kích của trâu, chó, hay đúng hơn là nỗi thờ ơ,
bạc bẽo của thế nhân. Với lòng ích kỷ, ty tiện, ăn chén đá bát, phần lớn
nghĩ rằng trong cuộc sống bình thường, con ngựa hay người lính có hay
không, cũng chẳng mấy ai lao đao vất vả. Tệ hơn nữa, nhiều người còn
nghĩ :
“Dại không ra dại, khôn chẳng nên khôn, ngất ngư như ốc mượn hồn” (LSTC câu 204-206).
Bài
học lịch sử đã minh chứng rõ ràng trong cuộc đổi đời ngày 30-4-1975 và
trên hết là thực trạng yếu hèn của VN hiện tại, khi lòng dân, lòng lính
không còn muốn dấn thân vì lý tưởng quốc gia đã hiện hình là chủ nghĩa
cộng sản. Thế mới biết, dù trong thời nào chăng nữa, con ngựa vẫn là con
ngựa hữu dụng muôn đời, hay nói khác hơn đó chính là sự hiện diện của
người lính trong mọi thời đại, vì sự hùng mạnh của họ bảo đảm để lân
bang không dám
lấn chiếm non sông gấm vóc của dân tộc. Rượu bồ đào, đàn tỳ bà, lưng
chiến mã, giờ không còn chờ ta nơi chiến địa, mà đợi ta trở lại với quê
xưa. Có phải thế không? Hỡi những con ngựa trận của thời nào, giờ thở
hoài hơi thở mệt, gục đầu chờ bỏ thây.
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Chạp 2013
MƯỜNG GIANG
Những con ngựa nổi tiếng trong lịch sử - văn học Trung Quốc
-
Lịch sử - văn học Trung Quốc có nhắc nhiều tới ngựa. Theo quan niệm
tuấn mã đi với anh hùng, hình ảnh những nhân vật lịch sử, nhân vật văn
học nổi tiếng của Trung Quốc khi xưa đều gắn liền với những con ngựa đã
đi vào sử sách.
Ngựa Xích Thố
Người
Trung Quốc có câu “Anh hùng có Lã Bố, tuấn mã có Xích Thố”. Xích Thố
được xem như một trong những “thần mã” (ngựa thần) của lịch sử Trung
Quốc.
Những
miêu tả về Xích Thố qua nhiều đời đã mang đậm màu sắc thần thoại với
nhiều ước lệ mà người Trung Quốc gắn cho con ngựa thần nổi danh sử sách
thời Tam Quốc: Mình ngựa Xích Thố dài một trượng, cao tám thước, lông đỏ
rực, ngày đi ngàn dặm, trèo đèo lội suối như đi trên đồng bằng.
Ngựa
Xích Thố từng qua tay nhiều chủ. Chủ nhân đầu tiên của Xích Thố là Đổng
Trác, tướng nhà Đông Hán. Sau vì muốn thu phục Lã Bố, Đổng Trác đã đem
tặng ngựa Xích Thố cho Lã Bố. Khi Lã Bố bị Tào Tháo giết, ngựa Xích Thố
lại về tay Tào Tháo.
Người
chủ cuối cùng của Xích Thố là Quan Vân Trường. Tào Tháo muốn thu phục
Quan Vân Trường đã bắt chước Đổng Trác tặng tuấn mã cho anh hùng nhưng
Quan Vân Trường nhận Xích Thố chỉ vì nóng lòng muốn tìm được người anh
em Lưu Bị và tuyệt nhiên không vì được tặng ngựa quý mà nảy sinh lòng
phản trắc.
Sau
này, khi Quan Vân Trường chết, Xích Thố lại rơi vào tay một tướng khác
là Mã Trung nhưng lần này nó không ngoan ngoãn để mình bị trao tay thêm
lần nữa, ngựa Xích Thố đã tuyệt thực để đi theo Quan Vân Trường. Có lẽ
đây chính là vị chủ nhân mà Xích Thố đã chờ đợi, tìm kiếm bấy lâu, giờ
Quan Vũ chết, nó không còn muốn phục tùng ai khác nữa.
Chính
vì hành động tuyệt thực này mà ngựa Xích Thố được người đời sau nhắc
đến như một thần mã, bởi nó không chỉ là tuấn mã mà còn biết sống có
nghĩa có tình, trung thành với chủ.
Ngựa Đích Lô
Đích
Lô vốn là ngựa của Trương Vũ - một tướng dưới trướng danh sĩ dòng dõi
hoàng tộc thời nhà Hán là Lưu Biểu, sau này, Trương Vũ sẽ phản bội lại
Lưu Biểu.
Lưu
Bị khi về với Lưu Biểu đã để ý ngựa Đích Lô của Trương Vũ, nhận ra đây
là một con tuấn mã, ông liền hết lời ca ngợi. Tướng của Lưu Bị lúc đó là
Triệu Vân liền giết Trương Vũ để cướp ngựa cho chủ nhân.
Lưu
Bị vốn định tặng ngựa Đích Lô cho Lưu Biểu nhưng Lưu Biểu cho rằng ngựa
Đích Lô “có quầng ở mắt, trên đầu có đốm trắng, ắt là con ngựa sát
chủ”, việc Trương Vũ chết chính là minh chứng nhãn tiền, vì vậy, Lưu
Biểu trả lại ngựa cho Lưu Bị.
Lưu
Bị tuyệt nhiên không tin ngựa Đích Lô sát chủ. Khi nhận được mật báo có
người truy sát, Lưu Bị vội vàng thoát thân cùng ngựa Đích Lô, nhưng bị
lạc đường tới suối Đàm Khê. Phía trước là suối sâu, phía sau là quân
địch, tiến thoái lưỡng nan, lúc này Lưu Bị bắt đầu tin Đích Lô sát chủ.
Ông
đang quát mắng Đích Lô thì bỗng nhiên con ngựa vùng lên, nhảy phắt sang
bờ bên kia, khiến quân địch bất lực, không thể truy sát Lưu Bị được
nữa. Sau này, Lưu Bị càng yêu quý Đích Lô hơn.
Ngựa Vương Truy
Vương
Truy Mã, hay còn gọi là ngựa Ô Vân Đạp Tuyết, đúng như tên của nó -
toàn thân màu đen, bốn vó màu trắng. Đây là ngựa quý của Trương Phi.
Tương truyền Trương Phi và Vương Truy Mã đều đen như nhau. Trương Phi
quý ngựa như con, thường xuyên tự tay tắm rửa, chải lông cho ngựa quý.
Ngựa Bạch Long
Được
biết đến là một trong “ngũ hổ tướng” của Lưu Bị, hình ảnh Triệu Vân gắn
liền với ngựa Bạch Long. Bạch Long Mã là con ngựa đẹp đẽ, dũng mãnh,
từng giúp Triệu Tử Long lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Hình
ảnh Triệu Vân trong “Tam Quốc diễn nghĩa” luôn được miêu tả là viên
tướng đánh trận dũng mãnh, quả cảm nhưng từ tốn, chắc chắn, không xốc
nổi như Trương Phi. Đặc biệt, hình ảnh Triệu Vân nổi bật trong trận
Đương Dương Tràng Bản.
Một
mình Triệu Vân cưỡi ngựa Bạch Long phá vây hàng vạn quân Tào, chém gãy 2
lá cờ to, giết 50 tướng, đoạt gươm báu Thanh Công - gươm mạ vàng của
Tào Tháo, có thể chém gãy các loại binh khí.
Người đời nay vẫn còn lưu truyền bài thơ về việc Triệu Vân cứu chúa trong trận Đương Dương Tràng Bản:
Máu đỏ chan hòa áo giáp hồng
Đương Dương ai kẻ dám tranh hùng.
Xưa nay cứu chúa xông trăm trận
Chỉ có Thường Sơn Triệu Tử Long.
Ngựa Tuyệt Ảnh
Ngựa
Tuyệt Ảnh là thần mã của Tào Tháo. Tuyệt Ảnh nghĩa là đến cái bóng ngựa
cũng không đuổi kịp, tên Tuyệt Ảnh nhằm nhấn mạnh đặc tính nổi bật nhất
của con ngựa, đó là sự thần tốc.
Trong
cuộc đời chinh chiến, có lần Tào Tháo gặp nguy biến, bị đánh bất ngờ,
trở tay không kịp nhưng may nhờ có ngựa Tuyệt Ảnh mà thoát hiểm. Ngựa
Tuyệt Ảnh cũng là một con ngựa rất mực trung thành, vì chủ nhân mà sẵn
sàng bỏ mạng.
Tương
truyền nó bị trúng ba mũi tên trên mình nhưng vẫn gắng sức phi nước
đại, giúp chủ thoát nguy nan, chỉ tới khi bị trúng thêm một mũi tên vào
mắt, Tuyệt Ảnh mới gục ngã.
Ngựa Ô Truy
Ngưa
Ô Truy của Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ là con chiến mã lông đen tuyền, to
lớn, dũng mãnh. Khi Hạng Vũ bại trận dưới tay Hán Vương Lưu Bang, Hạng
Vũ đã dùng kiếm tự sát bên dòng sông Ô Giang. Khi thấy chủ nhân tự sát,
ngựa Ô Truy cũng nhảy xuống sông chết theo. Người đời sau vẫn nhắc về
ngựa Ô Truy như một biểu tượng đẹp của lòng trung thành.
Ngựa Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử
Dạ
Chiếu Ngọc Sư Tử toàn thân lông trắng như tuyết, ở cổ có một hàng lông
dày, trông giống như sư tử, tính khí nóng nảy. Buổi tối, lông ngựa còn
phát ra ánh sáng trắng bạc, vì vậy mới có tên là Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử.
Con ngựa này từng được nhắc tới trong tiểu thuyết Thủy Hử, nó chính là
lý do dẫn đến trận đánh Tăng Đầu thị của quân Lương Sơn Bạc.
Ngựa Bạch Long
Hình
ảnh ngựa trắng thường trở đi trở lại trong sử sách, tiểu thuyết của
Trung Quốc. Ở trên, ta đã thấy có ngựa Bạch Long của Triệu Vân thời Tam
Quốc, ở đây, lại thấy thêm ngựa Bạch Long của Đường Tam Tạng trong “Tây
Du Ký”.
Trong
truyện, Đường Tăng cưỡi ngựa cùng các đồ đệ đi Tây Thiên thỉnh kinh.
Một lần, thầy trò Đường Tăng gặp một con rồng trắng, chính là Thái tử
Ngao Nhuận của Long Vương Tây Hải. Đang lúc bụng đói, rồng trắng liền ăn
thịt con ngựa của Đường Tăng. Quá tức giận, Tôn Ngộ Không định ra tay
giết chết con rồng.
Ngay
lúc ấy, Bồ Tát hiện ra can ngăn. Người liền hóa con rồng thành một chú
ngựa trắng và gọi nó là Bạch Long. Kể từ đó, để đền tội, ngựa Bạch Long
chở Đường Tăng đi thỉnh kinh và sau này cũng tu thành chính quả.
Chuyện “ông Táo” trong văn hóa dân gian Á Đông
Hình
tượng Táo quân đã tồn tại trong tín ngưỡng dân gian của nhiều nước Châu
Á từ lâu. Theo quan niệm truyền thống, ông Táo vừa là thần bếp trong
nhà vừa là người ghi chép lại tất cả những việc làm tốt xấu của con
người trong năm cũ.
Lễ cúng Táo quân trong đời sống văn hóa người Việt
Táo
quân hay còn gọi là Vua Bếp đã tồn tại trong tín ngưỡng dân gian Việt
Nam từ lâu. Theo quan niệm truyền thống, ông Táo vừa là thần bếp trong
nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà con người đã
làm trong năm cũ.
Vào
ngày 23 tháng Chạp, ông Táo sẽ bay lên thiên đình báo cáo với Ngọc
Hoàng tất cả những chuyện tốt xấu của gia chủ trong năm. Lễ cúng ông Táo
thường được tiến hành vào trưa hoặc chiều.
Lễ
cúng gồm có hương hoa, nải quả, vàng mã (gồm hai bộ mũ - hài đàn ông,
một bộ mũ - hài phụ nữ kèm theo ba con cá chép giấy, có gia đình cúng cá
chép thật), bánh chưng, bánh dày và các món thịnh soạn để dâng lên các
Táo cùng ông bà tổ tiên.
Theo
sự tích ông Táo, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên thiên
đình gặp Ngọc Hoàng. Tập tục thả cá chép phóng sinh sau khi cúng là một
nét đẹp văn hóa, ngụ ý “cá chép hóa rồng”, cá chép vượt Vũ Môn.
Hơn
thế, trong tâm thức người Việt, cá chép vượt Vũ Môn hay “cá chép hóa
rồng” còn là biểu tượng của sự thăng hoa, của tinh thần vượt khó, sự
kiên trì, bền chí chinh phục khó khăn để đi tới thành công, biểu trưng
cho sức mạnh tiềm ẩn, hướng đến một tương lai tốt đẹp.
Xưa
kia, trong Tết ông Công ông Táo, người Việt cổ còn có phong tục dựng
cây nêu. Vì từ ngày 23 tháng Chạp cho tới đêm Giao thừa sẽ vắng mặt Táo
quân dưới trần gian nên ma quỷ thường lẻn về quấy nhiễu, vì vậy, người
Việt cổ trồng cây nêu để trừ tà. Ngày 7 tháng Giêng là ngày “hạ cây
nêu”.
Xưa
kia có lệ: phàm những khoản vay mượn thiếu thốn trong dịp ấy người cho
vay không được đi đòi, phải đợi ngày hạ nêu mới được hỏi. Đó thực ra là
một nét sống rất nhân văn, tinh tế của ông cha ta khi xưa, những mong
trong nửa tháng trước và sau Tết, dù nhà giàu hay nhà nghèo cũng có cái
Tết bình an.
Cây
nêu ngày xưa là một cây tre cao khoảng 5-6 mét. Ở ngọn treo nhiều thứ
như vàng mã, xương rồng, tỏi ớt, hình nộm, lá dứa, bầu rượu, cá chép
giấy, cờ vải, khánh nhỏ bằng đất nung… Mỗi khi gió thổi, những khánh này
va vào nhau tạo thành tiếng leng keng nghe vui tai...
Người
ta tin rằng những vật nhiều màu sắc treo ở cây nêu, cộng thêm tiếng
động của khánh đất sẽ báo hiệu cho ma quỷ biết nơi đây là nhà có chủ,
không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo thêm một chiếc
đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu.
Nguồn gốc ba vị Táo quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Táo
quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ
Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ vốn tồn tại trong Lão giáo Trung Quốc nhưng được
Việt hóa thành huyền tích “hai ông một bà” gồm vị thần Đất, thần Nhà và
thần Bếp núc.
Người
dân xưa nay vẫn quen gọi chung ba vị thần này là Táo quân hoặc ông Táo.
Dân gian Việt Nam đã sáng tạo ra hẳn một tích truyện để nói về nguồn
gốc của Táo quân. Sự tích Táo Quân được tóm tắt như sau:
Trọng
Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh buồn
phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ
nhà ra đi, sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết
giận vợ, nghĩ lại thấy mình có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc
đem theo đều đã hết cả, Trọng Cao đành phải đi ăn xin.
Khi
Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi đưa
Trọng Cao vào nhà, hai người trò chuyện, Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã
trót lấy Phạm Lang.
Phạm
Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao thì khó xử, nên Thị Nhi bảo
Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt
rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra, sợ làm ảnh hưởng
tới gia đình mới của Thị Nhi, nên bị lửa chết thiêu.
Thị
Nhi trong nhà chạy ra thấy sự tình như vậy liền nhào vào đống rơm đang
cháy để chết theo Trọng Cao. Phạm Lang quá bất ngờ, thấy vợ chết không
biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.
Linh
hồn của ba người lên gặp Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng thấy họ sống có tình có
nghĩa, nên sắc phong làm Táo Quân, mỗi người giữ một việc: Phạm Lang
làm Thổ Công, trông coi việc đất đai. Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi
việc nhà cửa. Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa.
Ba
vị Táo quân chính là những vị thần định đoạt phúc đức cho gia đình.
Phúc đức này có được do việc ăn ở đúng đạo lý của gia chủ mà nên. Người
xưa thường có bàn thờ Táo quân riêng, đặt gần bếp, khi cúng phải nổi lửa
lên cho bếp cháy rực. Tuy vậy, giờ đây, người ta giản tiện đi và thường
cúng ông Táo ngay tại bàn thờ gia tiên.
Mâm
cỗ cúng ngày 23 tháng Chạp là để tiễn Táo quân lên trời chầu Ngọc
Hoàng, bẩm báo về những chuyện đã xảy ra trong một năm qua ở dưới trần
gian. Mâm cỗ thịnh soạn thể hiện mong muốn của người dân rằng Táo quân
dùng cơm xong sẽ “ấm lòng”, lên chầu sẽ tâu những điều tốt đẹp nhất với
Ngọc Hoàng và báo cáo nhẹ đi những điều không nên không phải của gia
chủ.
Việc làm này ở một khía cạnh nào đó giúp con người sống tốt hơn, tự ý thức lại những việc làm chưa đúng đắn trong năm cũ.
Táo quân trong văn hóa của các nước Châu Á khác
Hình
tượng Táo quân và tục thờ cúng Táo quân ở Việt Nam và Trung Quốc có
nhiều điểm tương đồng. Người Trung Quốc cũng cúng ông Táo vào ngày 23
tháng Chạp âm lịch. Trong quan niệm của họ, phúc lộc mà gia chủ được ban
cho trong năm mới cũng được quyết định phần nhiều bởi “bài báo cáo” của
Táo quân với Ngọc Hoàng trên thiên đình.
Tuy
vậy, Táo quân của người Trung Quốc chỉ có một ông một bà. Họ thường lập
bàn thờ Táo quân trong bếp với tranh hoặc tượng của ông Táo - bà Táo.
Vào ngày 23 tháng Chạp, người ta thường bôi mật ong lên tranh hoặc tượng
của Táo quân với ý là Táo quân ăn mật ong xong sẽ “ngọt giọng” hơn và
bẩm tâu những điều tốt đẹp về gia chủ lên Ngọc Hoàng.
Ở
Trung Quốc, thay vì cúng cá chép, người ta thường cúng nước và chút cỏ
khô, coi đây là thức ăn cho ngựa của Táo quân. Theo quan niệm của họ,
ngựa mới là con vật đưa Táo quân lên trời.
Người
Nhật có nam thần Daikokuten là vị thần chủ sự chuyện nhà cửa, bếp núc
và tài lộc của gia chủ. Ở Nhật, mỗi khi dịp năm mới đến, người ta thường
bày bán những bức tượng thần Daikokuten - một biểu tượng của sự may
mắn, thịnh vượng.
Vị
thần này có khuôn mặt to lớn, nụ cười hể hả và thường được sơn màu nâu
đen, có lẽ do thần luôn ở trong gian bếp mà bị “ám khói”.
Thần
thường cầm theo một cái vồ bằng vàng, đây là cái vồ may mắn, mang lại
tiền tài, thần hay được khắc họa ngồi trên chĩnh gạo và có những con
chuột ở quanh bởi chuột trong văn hóa Nhật Bản hàm ý cho việc gia chủ có
nhiều của ăn của để, chuột biết nên kéo tới “xin ăn”.
Người
Hàn Quốc có nữ thần Jowangshin là vị thần lửa, vị thần của các gia
đình. Xưa kia, phụ nữ Hàn Quốc thường là người đảm nhận việc cúng tế nữ
thần Jowangshin nhưng về sau, tục lệ này mai một dần và giờ người Hàn
Quốc không còn thờ vị nữ thần này nữa.
Tuy
vậy, nữ thần Jowangshin vẫn là một trông những vị thần “nổi tiếng” nhất
trong văn hóa dân gian Hàn Quốc. Vị nữ thần này cũng khá giống với Táo
quân của Việt Nam, bà là người ghi chép lại những chuyện tốt xấu xảy ra
trong mỗi gia đình suốt một năm và sau đó lên thiên đình bẩm lại với
Ngọc Hoàng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét